Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Có một con đường hoa kiểng – cây giốngCó một con đường hoa kiểng – cây giống
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Chợ Lách cách thành phố Bến tre khoảng 40km, nằm trên vùng đất cù lao Minh, chếch về hướng tây bắc. Giao thông thủy, bộ để giao lưu trong vùng và để du khách tìm đến đây  đều rất thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm luông theo quốc lộ 60 (khoảng 04km), đến ngã tư Tân Thành Bình – Mỏ Cày Bắc, rồi rẽ phải vào đường tỉnh 882 nối với quốc lộ 57 (10km) để bắt đầu con đường hoa kiểng – cây giống nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà còn lan rộng cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Hiện nay cũng đã có tuyến xe buýt (MST 08) Bến Tre – Mỏ Cày Bắc – Chợ Lách – Phà Đình Khao (Vĩnh Long), lộ trình trên dưới 60km rất dễ để du khách đến cả từ hướng Bến Tre và Vĩnh Long.

 

Và quả thật, vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách nổi tiếng với con đường hoa kiểng - cây giống cùng nhiều làng nghề truyền thống sẽ không làm thất vọng cả những du khách khó tính khi đến vùng sông nước yên bình và thơ mộng này. Có thể lướt qua một vài điểm dừng chân, được du khách ưa chuộng trên con đường hoa kiểng – cây giống mà mỗi khi du khách về tham quan tại Bến Tre:

1. Khu “Di tích Căn cứ Quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định” (còn gọi là Y4, T4): Cách thành phố Bến Tre 14km, căn cứ Y4 đã từng là nơi ở và làm việc của Khu ủy Sài gòn – Gia Định những năm 1969-1970. Di tích vừa được tái tạo trên khu đất 02ha và khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 28/4/2012 gồm: Nhà bia, nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, hầm làm việc và hầm bí mật của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và ông Trần Bạch Đằng; hầm cơ yếu; hầm cứu thương và hầm tiếp khách… Di tích được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là di tích cấp quốc gia ngày 23/12/1995.

 

2. Vườn kiểng thú Năm Công (09km từ căn cứ Y4): Do nghệ nhân Năm Công làm chủ cơ sở, tại đây đã chế tác nhiều loại cây kiểng lớn hình 12 con giáp, lục bình và nhiều loại nhà cây xanh cung cấp cho các khu du lịch, resorts trong và ngoài nước. Hiện nay, nghề làm kiểng thú đã phát triển ra nhiều hộ chung quanh và trở thành làng nghề làm kiểng thú rất sung túc.

3. Vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy: Từ vườn kiểng thú Năm Công đi tiếp hơn 01km là vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy có diện tích 1,8ha với hơn 40 loại kiểng lá, kiểng bông, bonsai và cây giống. Nơi có lối đi tham quan mát mẽ và du khách có thể chọn mua kiểng bon sai…

4. Đường hoa kiểng, cây giống Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam: tại xã Vĩnh Thành (dưới dốc bên phải cầu Cái Mơn nhỏ). Đây là làng nghề truyền thống hoa kiểng Vĩnh Bắc, Vĩnh Nam đã được công nhận từ nhiều năm nay. Đường hoa rực rở, muôn màu, muôn sắc có hình vòng cung dài hơn 10km được dòng sông Cái Mơn thơ mộng bao quanh. Hai bên đường, các nghệ nhân trong làng trồng tỉa, sắp xếp các loại hoa kiểng ngay ngắn, thẳng hàng. Một số hoa kiểng trồng chuẩn bị cho mùa tết, một số cao kiểng, hoa kiểng, cây cảnh khác, cây giống, đang chờ các thương lái từ các nơi đến nhận theo hợp đồng ký kết để bán ra các nơi khác.

5. Vườn sầu riêng Bảy Thảo: Nằm trên đoạn giữa đường hoa Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam, có diện tích hơn 1,2ha. Nơi đây, chủ nhà còn thường xuyên chăm sóc gần 100 con gà nòi cung cấp cho thị trường Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong nước. Điểm Vườn sầu riêng Bảy Thảo, du khách có thể được phục vụ trái cây tại vườn, ăn trưa với các món ăn truyền thống miền quê sông nước và ngủ lại nhà dân (homestay) nếu du khách có nhu cầu.

 

6. Nhà thờ Cái Mơn: Một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, xây dựng vào năm 1872. Tháp chuông 09 tầng, cao 56,52m với 06 chuông đúc tại nước Pháp và tổng trọng lượng các chuông đồng đến 4.000 kg. Nhà thờ là nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân xã Vĩnh Thành (Cái Mơn). Đối diện nhà thờ là nhà bia tưởng niệm và ghi nhớ nơi sinh của  nhà bác học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản, là một trong 18 vị bác học thế kỷ XIX.

7. Điểm du lịch Ba Ngói – vườn chôm chôm – khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, qua thị trấn Chợ Lách  khoảng 06km. Du khách có thể tham gia cào ốc gạo, thăm vườn chôm chôm, sầu riêng và thưởng thức bánh xèo hến, gỏi cuốn ốc gạo…

8. Điểm du lịch Tám Lộc – vườn chôm chôm – trại nuôi ong mật - khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Nằm trong ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình, cách thị trấn huyện Chợ Lách gần 07km. Các dịch vụ cũng giống như điểm du lịch Ba Ngói và du khách còn có thể tham quan trại nuôi ong mật cạnh vườn chôm chôm, có lúc mùa cao điểm lên đến 700 – 800 thùng ong.

9. Ngoài ra, tại cồn Phú Đa – Vĩnh Bình còn có vườn xoài tứ quí Thanh Sơn; khu bãi cát tắm sông cồn Phú Bình (sông Cổ Chiên) và làng bó chổi cạnh các điểm du lịch ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình.

Vùng đất Chợ Lách – Cái Mơn, vương quốc hoa kiểng, cây giống và nhiều loại trái cây đặc sản, giá trị cao có nhiều địa điểm du lịch liên hoàn, theo chuỗi tham quan theo không gian và lộ trình tuyến điểm đã và đang thu hút không những khách lẻ, tự sắp xếp chuyến đi mà còn rất thích hợp và thuận lợi cho các đơn vị hãng lữ hành tổ chức cho các đoàn khách lớn của Công ty. Du lịch đến Chợ Lách – Cái Mơn không những hấp dẫn nhờ những ưu thế hoa kiểng, cây giống, một miệt vườn  khác, rất êm đềm và thanh bình, giao lưu văn hóa nghệ thuật cấy ghép giống của các nghệ nhân giàu tình cảm, mến khách. Xin mời quí khách hãy đến vùng đất Cái Mơn – Chợ Lách này để một lần cảm nhận hay trải nghiệm thú vị với một miền quê còn nhiều điều nên khám phá và thư giãn thưởng ngoạn trước cuộc sống ngày càng hối hả hiện nay.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phan Thị Hồng ChâuPhan Thị Hồng Châu
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre.

Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu

Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. Trong Tết Mậu Thân (1968), chị được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ trinh sát vũ trang, trực tiếp chiến đấu, bảo vệ cơ sở cho đến khi được điều động ra vùng giải phóng (1972). Hoạt động trong vùng địch kiểm soát gắt gao, Nguyễn Thị Minh Hiền đã xây dựng được 5 cơ sở, đồng thời tìm mọi cách che mắt địch, bảo vệ mình, hoàn thành nhiệm vụ. Chị đã tham gia chiến đấu 17 trận, tiêu diệt và làm bị thương 174 tên gồm cảnh sát, tình báo, chiêu hồi, bình định của địch. Có những trận, một mình Nguyễn Thị Minh Hiền luồn sâu vào sào huyệt của chúng diệt nhiều tên. Đó là trận ngày 27-1-1970, chị dùng mìn định hướng diệt và làm bị thương 17 tên địch tại hội trường công chức của tỉnh. Cũng tại đây, ngày 1-4-1970, chị đã đánh một trận xuất sắc bằng mìn định hướng, diệt và làm bị thương 44 tên, bẻ gãy kế hoạch càn quét và bình định cấp tốc của địch, làm chúng hoang mang, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ. Nguyễn Thị Minh Hiền luôn nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng thường xuyện, lập công xuất sắc, hai năm liền là Chiến sĩ thi đua.

Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương chiến công giải phóng. Ngày 6-1-1974, Nguyễn Thị Minh Hiền được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôiDi tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   

Image
Bia lưu niệm cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự.

  Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.

   Di tích đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn CẩnAnh hùng liệt sĩ Ngô Văn Cẩn
Anh hùng Ngô Văn Cẩn (tức Sáu Quyền) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Từ khi nhập ngũ tới lúc hy sinh, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu ở nhiều địa bàn trong tỉnh Bến Tre. Tính chung trong hơn 12 năm, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu 210 trận, góp phần chỉ huy đơn vị diêt hơn 2.000 tên địch, bắt 120 tên, thu gần 100 súng các loại. Riêng anh diệt và làm bị thương 185 tên, bắt 13 tên (hầu hết là ác ôn, tề điệp), thu 35 súng, 7 máy thông tin. Có trận ngay từ phút đầu, anh đã bắn chết tên địch giữ khẩu trung liên rồi sử dụng khẩu súng này bắn mạnh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt gọn căn cứ địch. Một lần khác, Ngô Văn Cẩn chỉ huy 10 chiến sĩ giả làm lính ngụy lọt vào diệt gọn 1 trung đội địch rồi rút ra an toàn. Ngô Văn Cẩn cũng có nhiều thành tích trong việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, và trong hàng ngũ địch. Anh đã xây dựng được 40 cơ sở trong đó có 15 cơ sở khởi nghĩa diệt ác ôn mang vũ khí về với cách mạng. Cẩn còn giáo dục và tổ chức 25 thiếu niên làm liên lạc mật, vận động hàng trăm thanh niên tham gia du kích và vào bộ đội. Ngày 22-2-1972, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi chỉ huy tiểu đoàn diệt gọn đồn Cầu Dần (Mỏ Cày).

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 15 bằng và giấy khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978 , Ngô Văn Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng Ngô Văn Cẩn (tức Sáu Quyền) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Từ khi nhập ngũ tới lúc hy sinh, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu ở nhiều địa bàn trong tỉnh Bến Tre. Tính chung trong hơn 12 năm, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu 210 trận, góp phần chỉ huy đơn vị diêt hơn 2.000 tên địch, bắt 120 tên, thu gần 100 súng các loại. Riêng anh diệt và làm bị thương 185 tên, bắt 13 tên (hầu hết là ác ôn, tề điệp), thu 35 súng, 7 máy thông tin. Có trận ngay từ phút đầu, anh đã bắn chết tên địch giữ khẩu trung liên rồi sử dụng khẩu súng này bắn mạnh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt gọn căn cứ địch. Một lần khác, Ngô Văn Cẩn chỉ huy 10 chiến sĩ giả làm lính ngụy lọt vào diệt gọn 1 trung đội địch rồi rút ra an toàn. Ngô Văn Cẩn cũng có nhiều thành tích trong việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, và trong hàng ngũ địch. Anh đã xây dựng được 40 cơ sở trong đó có 15 cơ sở khởi nghĩa diệt ác ôn mang vũ khí về với cách mạng. Cẩn còn giáo dục và tổ chức 25 thiếu niên làm liên lạc mật, vận động hàng trăm thanh niên tham gia du kích và vào bộ đội. Ngày 22-2-1972, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi chỉ huy tiểu đoàn diệt gọn đồn Cầu Dần (Mỏ Cày).

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 15 bằng và giấy khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978 , Ngô Văn Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Nguyễn Tẩu (1907 – 1978)Nguyễn Tẩu (1907 – 1978)
 

Image
Nguyễn Tẩu (1907-1978)
Tên thật là Nguyễn Văn Tời, bí danh Ba Lê, Hồ Việt Đông, sinh ngày 23-10-1907 trong một gia đình trung nông ở xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, học chữ Nho, chữ quốc ngữ và học võ. Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê có truyền thống văn hóa và có phong trào yêu nước sôi nổi, anh thanh niên Nguyễn Văn Tẩu đã sớm hiểu được nỗi nhục mất nước. Năm 1929, gia nhập tổ chức VNTNCMĐCH, đến năm 1930 được kết nạp vào ĐCSĐD. Trong đợt khủng bố của địch sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, đồng chí trốn sang Phom Penh, đến cuối năm 1932 về lại Bến Tre bắt liên lạc với các đồng chí Nguyễn Văn Bích, Trần Văn An gầy dựng lại phong trào.

   Năm 1935, được cử làm Bí thư Huyện ủy Ba Tri, năm 1936 là Tỉnh ủy viên Bến Tre, có nhiều đóng góp trong phong trào Dân chủ (1936 – 1939). Cuối năm 1939, đồng chí bị địch bắt trên đường công tác ở xã Châu Bình (nay thuộc huyện Giồng Trôm) đưa đi đày ở Tà Lài (tỉnh Biên Hòa). Năm 1943, mãn hạn tù, được đưa về quản thúc tại Bến Tre. Đồng chí đã bắt liên lạc với những đảng viên còn lại ở Ba Tri, củng cố lại tổ chức Đảng, thành lập Quận ủy Ba Tri, móc nối lại với các cơ sở Đảng ở Châu Thành, Sóc Sãi, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre.

   Cuộc họp tháng 12-1944 của “Ủy ban sáng kiến” gồm có đại biểu các quận Ba Tri, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Sóc Sãi tại Giồng Chuối (Ba Tri) để thành lập Tỉnh ủy Bến Tre mới, đã nhất trí cử đồng chí Nguyễn Tẩu làm Bí thư (cũng trong thời gian này, tại Bến Tre một số đảng viên đã liên lạc với Xứ ủy lâm thời do Trần Văn Giàu làm Bí thư, đã thành lập Tỉnh ủy do đồng chí Đỗ Văn Khuyến làm Bí thư. Đến tháng 4-1945, hai Tỉnh ủy mới hợp nhất lại, do Nguyễn Tẩu làm Bí thư).

   Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Bến Tre được hoàn tất vào chiều ngày 25-8-1945. Đồng chí Nguyễn Tẩu được phân công làm Trưởng Quốc gia tự vệ cuộc (tức công an ngày nay) và được bầu làm đại biểu quốc hội khóa đầu tiên của tỉnh Bến Tre cùng với các ông Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Cái, Đỗ Phát Quang, Trần Quế Tử. Khi quân Pháp chiếm lại Bến Tre, đồng chí được chuyển sang phụ trách Tỉnh đội Bộ Dân quân.

   Năm 1951, đồng chí được cấp trên điều về công tác ở TƯ Cục phụ trách công tác nông thôn, rồi công tác tổ chức.

   Tập kết ra miền Bắc, sau khi được cử đi học bổ túc văn hóa và chính trị, đồng chí được điều về làm Phó ban thanh tra Bộ Nội thương, Phó cục trưởng Cục muối, Phó cục trưởng Cục Nhà đất thuộc Bộ Nội vụ, cho đến năm 1971 thì nghỉ hưu. Đồng chí mất ngày 8-1-1978 tại thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Nhà cổ Đại ĐiềnNhà cổ Đại Điền
Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Ngôi nhà do ông Khiêm xây dựng từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Những câu chuyện kể lại rằng: Các người thợ lúc  kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném hột quanh nhà, khi hột bưởi nẩy mầm thành cây lớn lên cho trái chín, ngôi nhà vẫn chưa xong (một cây bưởi trồng từ hột phải mất 6 - 7 năm mới cho trái). Các thợ làm nhà từ lúc còn bé cho đến khi lớn lên được ông đứng ra lo việc vợ con, nhà vẫn chưa hoàn thành. Theo lời kể, phải trên 10 năm mới xây dựng xong ngôi nhà. Thợ làm nhà là những người thợ ở miền ngoài vào, có thể là thợ miền Trung hoặc miền Bắc, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. 

 

Nằm trên khoảng đất rộng, cao ráo, chung quanh trồng cây ăn trái, ngôi nhà có diện tích trên 500m2,  được cất theo kiểu nhà xuyên trính, ba gian hai chái  ba (hay còn gọi là nhà tám đấm tám khuyết). Nền nhà cao gần 1m, kè đá xanh, bên trong lót gạch tàu xen với gạch bông. Sườn nhà bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói thí có hoa văn màu rất đẹp (hiện nay chỉ còn lại rất ít). Tường vôi bao bọc xung quanh với nhiều cửa sổ và khuôn bông thông gió, bốn phía đều có cửa ra vào. Mặt chính ngôi nhà quay về hướng Đông là con đường chính của xã.

Nhà có 80 cây cột trong đó 48 cây cột bằng gỗ lim và 32 cột gạch (hàng cột thứ tư). Cột cái to, cao trên 5 mét. Kèo là những thanh gỗ to đẻo cong gọi là kèo vỏ đậu. Kèo làm từng đoạn nối chồng lên nhau ở mỗi đầu cột, thân kèo được chạy chỉ viền và chạm nổi hoa văn; đầu kèo chạm hình rồng; thân kèo ở mỗi đoạn làm khác nhau và nhỏ dần từ trên xuống. Đặc biệt, đoạn kèo cuối (từ hàng cột thứ ba ra hàng cột thứ tư) được làm rất công phu theo hình long giáng, thân kèo cách điệu thân rồng uốn lượn, đuôi kèo hình đầu rồng đỡ mái nhà.

Ngoài lớp tường ngoài, bên trong còn một lớp vách gỗ bao bọc 3 gian giữa và một phần chái ở 2 đầu xông của ngôi nhà. Bốn phía có 9 cửa đi vào, vách phía trước có 5 cửa mở vào các gian thờ, các cửa còn lại bố trí ở hai bên và phía sau. Cửa giữa phía trước treo tấm biển Huỳnh Phủ bằng chữ Hán được sơn son thiếp vàng. Lớp vách nầy chia ngôi nhà làm hai phần: phần bên trong là nơi thờ tự, phần bên ngoài dùng để tiếp khách và các sinh hoạt hằng ngày. Phần bên trong lại được chia làm hai bởi một  tấm vách lụa: hai phần phía trước là nơi thờ tự, một phần phía sau là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của gia đình. Phần phía trước lại có vách ngăn giữa ba gian chính và hai gian phụ hai bên.

 161007_82.jpg

Ba gian chính - phần trung tâm của ngôi nhà là nơi thờ tự tôn nghiêm - nên tất cả những công trình chạm khắc gỗ trên hoành phi, bao lam, khánh thờ đều được sơn son thiếp vàng và cẩn ốc xà cừ, thể hiện lòng tôn kính đối với người đã mất.

Nhà ông Hương Liêm được xây dựng bằng các loại cây gỗ quí với hoa văn chạm khắc trên gỗ mà đặc sắc nhất là hoa văn trên các khung cửa. Hoa văn trên khung cửa thể hiện trong các trám ngang hoặc trám đứng và chia thành thành từng tầng theo các đố ngang, đố dọc.

Trang trí ở nhà ông Hương Liêm gồm có hoành phi, liễn đối, bao lam, và chạm khắc trên gỗ. Cách trang trí đa dạng theo từng phần của ngôi nhà. Vách gỗ kết hợp giữa chạm lộng, chạm nổi và chạm lưới. Khung cửa chạm nổi xen với cẩn ốc xà cừ. Liễn áp cột và tranh trong các khánh thờ được cẩn ốc. Bao lam cột và khánh thờ chạm lộng kết hợp với sơn son thiếp vàng. Ốc xà cừ được cẩn rất tỉ mỉ trên chữ, hoa lá, cỏ cây,… đến từng đường nét nhỏ nhặt nhất.

Tùy theo kiểu chạm khắc mà hoa văn khác nhau. Hoa văn chạm lộng, ngoài lộng hình còn có lộng chữ Hán hoặc lộng song. Hoa văn chạm nổi là đa dạng nhất từ hoa trái, cây cỏ đến chim thú, côn trùng ở dưới nước và trên cạn (trúc, hoa sen, hoa súng, hoa mai; lúa, dưa hấu, đào lộn hột (điều), khế, mảng cầu (na), lựu, xoài, nho, ổi, cà; chim, chuột, vịt, gà, tôm càng xanh, cua ,cá, sóc, thỏ, rái cá; dơi, chuồn chuồn, bướm,…).

Tinh xảo và công phu nhất là hoa văn ở các trám với kiểu chạm nổi hai lớp. Lớp bên trong chạm lộng như lớp lưới, lớp ngoài là chạm nổi. Tùy theo mỗi trám mà lớp trong có hình dạng khác nhau: hình chữ thập, hình mắc lưới, hình tròn, hình cánh hoa… làm nền cho lớp hoa văn chạm nổi bên ngoài. Hoa văn ở từng mảng không đơn thuần mà thường là kết hợp các loài động thực vật trong cùng một chủ đề như: sen – vịt – ếch; chim bói cá (đang ngậm cá) – sen; chim – gà – hoa cỏ; mai – đào; chim – lựu, điều – lựu; chuồn chuồn – cây cỏ hoa – thỏ…Hoa văn chạm nổi còn có kiểu "văn hóa lá" ( thân, dây các loại cây trái, con vật có hình rồng phụng) như: mai hóa rồng, lựu hóa cá, hóa rồng; dưa hấu hóa rồng, hóa phụng…. Các đồ án ngoài việc trang trí còn hàm ý cầu mong đa phúc, đa lộc, an khang, thịnh vượng cho gia chủ.

 161007_83.jpg

Các liễn áp cột cũng góp phần giúp cho nội thất ngôi nhà thêm phần cổ kính. Những Hán tự trên liễn đối được thể hiện rất công phu, không chỉ có chữ mà còn phối hợp với hoa văn cẩn ốc theo các kiểu: hoa văn và chữ, hoa văn trong chữ, chữ trong hoa văn và còn có cả thi - họa (liễn đối là thơ và tranh Nhị Thập Tứ Hiếu).

Đồ án đa dạng, sắc xảo không chỉ thể hiện sự điêu luyện mà còn có cả tâm huyết của những nghệ nhân bậc thầy đã gửi gắm vào công trình đến từng chi tiết. Những tác phẩm chạm khắc gỗ dầy đặc, chắc chắn nhưng uyển chuyển sinh động không thô kệch và càng nhìn càng thấy được nét tinh xảo trên từng đường nét. Đồ án trang trí còn thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy tài hoa trong việc kết hợp đề tài dân dã từ các loài động thực vật quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của cư dân địa phương với các đề tài theo khuôn mẫu đã có như bát bửu, tứ linh, tứ quí, sen hạc, tùng lộc, bách điểu… vào trong tác phẩm chạm khắc của mình.

Nhà ông Hương Liêm không còn được cái dáng vẻ "tươm tất" do thiếu sự đầu tư chăm sóc. Tuy nhiên nội thất còn gần như nguyên vẹn, là cả một công trình nghệ thuật của nghề chạm khắc gỗ, không thua kém những ngôi nhà cổ đẹp hiện còn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Hơn 100 năm đã trôi qua, thế sự biết bao thay đổi. Nhà ông Hương Liêm giờ cũ kỹ rêu phong, đứng trầm mặc bên cạnh con đường đất đỏ như để minh chứng cho thời vàng son của nó khi xưa. Nó xứng đáng và cần được bảo tồn cho hậu thế.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Các anh hùng lao động của tỉnh Bến TreCác anh hùng lao động của tỉnh Bến Tre
 

Đoàn Thúy Ba

An Thới, Mỏ Cày.

Thứ trưởng Bộ Y tế

Anh hùng Lao động, 2000.

Phạm Khắc

Phước Long, Giồng Trôm.

Giám đốc Đài truyền hình TP.HCM.

Anh hùng Lao động, 2000.

Đặng Văn Thân

Phước Long, Giồng Trôm.

Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.

Anh hùng Lao động, 2000

Đã ban hành
Ẩm thựcẨm thực
​Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần. 
Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần.         

Nhìn chung, các món ăn ngày thường và ngày lễ của người Bến Tre cũng gíống như đồng bào các tỉnh trong vùng châu thổ sông Cửu Long, nghĩa là cũng vẫn cách ăn và chế biến món ăn theo khẩu vị và kinh nghiệm của người Việt từ miền ngoài vào định cư trên đất mới với hai mùa mưa, nắng. Họ biết kết hợp việc vận dụng những kiến thức về dinh dưỡng, về y học và sinh học với việc khai thác những ưu thế mà thiên nhiên vùng đất đai, sông nước trù phú đã dành cho con người, để tạo ra những món ăn vừa ngon, vừa bổ, hợp với khí hậu và thổ nghi, đảm bảo sự cân bằng âm dương trong cơ thể, đủ sức duy trì tốt sự sống. Ở Bến Tre là xứ sở của dừa, nên việc sử dụng chất béo của cơm dừa, chất ngọt tự nhiên của nước dừa, vào bữa ăn hàng ngày rất phổ biến.

Ăn theo mùa

Ở Bến Tre, một số món ăn chỉ có theo mùa trong một thời gian nhất định và ngon nhất khi đúng mùa. Ví dụ: cá rô kho tộ, cũng như cá trê, cá bống kèo kho tộ là một món ăn "dân dã" được nhiều người ưa thích, song cá rô ngon nhất là vào tháng 9, tháng 10, lúc ấy cá có trứng và béo nhờ ăn nhiều mồi. Cua gạch và cua lột ngon nhất từ tháng 7 đến tháng 9.

Ếch nhiều và ngon vào tháng trời bắt đầu sau mưa. Lúc này, ếch sắp bắt cặp, nên rất mập và mềm xương. "Ếch tháng ba, gà tháng bảy", câu tục ngữ được tổng kết từ thực tế. Ếch xào xả ớt, nấu càri, xào với bún tàu và mấm hương, nấm mèo, hoặc tẩm bột rán vàng là những món ăn được đánh giá cao…

Bến Tre còn có nhiều loại cá ngon như cá lóc, cá bông lau, cá duồng v v… Riêng con cá cháy, một đặc sản rất hiếm chỉ xuất hiện vào mùa gió chướng ở phần cuối sông Cổ Chiên. Cá cháy ngon nhất là món kho hầm (kho mềm cả xương và vảy), hoặc nướng lửa than hay chiên tươi. Con đuôn chà là cũng là một món ăn quý, nhất là đối với khách làng nhậu. Thời nhà Nguyễn, đuôn chà và là đặc sản để “tiến” vua chúa.

Không nhiều chim như Bạc Liêu, Cà Mau, nhưng sân chim Vàm Hồ có các loài chim thịt ngon như: chàng nghịch, gà nước, cút, óc cao, cúm núm, chim sẻ, chim lá rụng, cò, diệc, quốc. Những người sành thịt chim phân biệt rất rõ loài chim ăn hạt và côn trùng với loài chim ăn cá, ốc, cua v v… Họ biết mùa nào thì thịt chim rô ti rồi ăn với gạo đặc sản vừa mới gặt, sẽ cho ta hương vị đồng quê, thơm ngon dẻo, tinh khiết, đậm đà, chỉ cần ăn một lần nhớ mãi không quên.

Đã ban hành
Văn họcVăn học
​Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...
Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...

Tỉnh đã có chủ trương nhanh chóng chuyển những hoạt động văn học nghệ thuật từ thời chiến sang thời bình, phục vụ sát sườn những nhiệm vụ chính trị của thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Hoạt động của Phân hội Văn nghệ Đồ Chiểu trong vài năm đầu sau giải phóng còn gắn chặt với những hoạt động của ngành Văn hóa – Thông tin. Từ khi có quyết định thành lập Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu của UBND tỉnh, những hoạt động văn nghệ dần dần tách riêng ra thành hoạt động của một hội chuyên ngành độc lập.

Đại hội Văn nghệ của tỉnh lần thứ II (7-1989) đã khẳng định vị trí của văn học là bộ môn chủ chốt của hoạt động văn học nghệ thuật. Chính vì vậy mà Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã tập trung sức để phát triển bộ môn văn học của tỉnh nhà.

Đến Đại hội Văn nghệ tỉnh lần thứ III (1999), số hội viên của Phân hội văn học từ 30 người (trong đại hội lần thứ II) đã tăng lên 90 người. Năm 1994, Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã thành lập Hội Thơ Đường luật lấy tên là "Bạch Mai thi hội" gồm 150 hội viên và một câu lạc bộ riêng.

Cơ quan của Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu là tập san "Văn Nghệ Bến Tre", xuất bản định kỳ thay cho những tập Văn nghệ Bến Tre xuất bản theo từng chuyên đề ra đời trước đó. Tập san là tờ báo riêng của giới sáng tác phê bình văn học nghệ thuật (văn, thơ, nhạc, họa, sân khấu, lý luận phê bình...) và những người yêu thích văn nghệ trong tỉnh, cùng một số cộng tác viên ngoài tỉnh. Bên cạnh thế hệ những cây bút thời chống Mỹ như: Đoàn Tứ, Chim Trắng, Trang Thế Hy, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Trung Điền, Nguyễn Hồ, Huỳnh Năm Thông, Phan Thảo, Kim Tinh, Lê Dân, Lê Hồng Phương, Trần Ký, Thu Nguyễn, Nguyễn Phước..., một thế hệ những cây bút trẻ sau 1975 xuất hiện ngày một đông đảo trên các tập san và các báo chí khác của địa phương. Trong số đó, nổi lên một số cây bút như: Lê Hoàng Dũng, Thanh Vũ, Kim Ba, Vũ Hồng, Hồ Trường, Nguyễn Chí Bền, Lê Xuân Đoàn, Nguyên Tùng, Phạm Thị Ngọc Diệp.

Nếu như đội ngũ cầm bút trưởng thành từ trong chiến tranh có vốn sống và sự từng trải, vững vàng về chính trị và có tay nghề nhất định, thì thế hệ những cây bút trẻ sau này, tuy có những hạn chế về kinh nghiệm và vốn sống, nhưng sự hiện diện của lực lượng đông đảo này đã làm cho bộ mặt văn học tỉnh mang những nét đa dạng, phong phú của đời sống với những ước mơ, suy tư giàu nhiệt tình, khỏe khoắn và trẻ trung, khát khao cái mới.

Ngoài tập san Văn Nghệ Bến Tre của Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, còn phải kể đến tập san "Văn hóa Văn nghệ" của Ty Văn hóa - Thông tin, về sau là Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), xuất bản không định kỳ và một số tập san của các cơ quan đoàn thể trong tỉnh như tờ Công an Bến Tre, Tuổi trẻ Bến Tre, Tư pháp, Sức khỏe, Ngân hàng, Dân số, Vì trẻ em... Các tờ báo ra không định kỳ này, ngoài phần dành cho chuyên ngành vẫn để một số trang riêng đăng tải các sáng tác văn nghệ mới nhất.

Công tác bồi dưỡng đội ngũ, đào tạo cán bộ cho ngành cũng được đặt ra một cách cấp thiết. Ngoài việc phát hiện những tài năng mới để gởi đi đào tạo ở các trường lớp chính quy theo chính sách, Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu đã phối hợp cùng với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, một số tỉnh lân cận như Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch)​, tổ chức những trại bồi dưỡng, những cuộc thi sáng tác, những lớp tập huấn về chính trị và nghiệp vụ để nâng cao tay nghề cùng quan điểm, lập trường của người cầm bút. Nhờ vậy, đội ngũ làm công tác văn học nghệ thuật Bến Tre, từ điểm xuất phát ban đầu vừa mỏng vừa yếu, đến nay đã có một lực lượng tương đối đông đảo. Nhiều hội chuyên ngành như Hội Âm nhạc, Hội Nhà văn, Hội Sân khấu, Hội Mỹ thuật, lần lượt ra đời. Nhiều cây bút trưởng thành nhanh, đặc biệt sự hình thành một lực lượng viết trẻ giàu nhiệt tình, xông xáo, có kiến thức văn hóa, có trình độ lý luận nhất định về nghề nghiệp.

Cũng cần phải kể đến một số tác phẩm đã xuất bản trong cùng thời gian này của những cây bút quê Bến Tre hoạt động văn nghệ ở ngoài tỉnh như Chim Trắng, Bùi Ngọc Trung, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Nguyễn Hải Trừng, Nguyễn Hồ, Nguyễn Trọng Tín, Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Bá, Trầm Hương.. Đó là các tập thơ Những ngả đường và Dấu vết nhỏ nhoi của Chim Trắng. Anh tham gia kháng chiến tại quê hương và bắt đầu làm thơ từ những năm chống Mỹ. Thơ Chim Trắng từ lâu đã trở nên quen thuộc với bạn đọc trong tỉnh. Tập Những ngả đường của anh đã được giải thưởng văn thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là Tập truyệnMưa ấm và Vết thương thứ 13 của Trang Thế Hy, ông hoạt động văn học từ trong kháng chiến chống Pháp đến sau 1954, có một thời gian hoạt động văn nghệ, báo chí ở nội thành Sài Gòn, Trang Thế Hy là một cây bút chuyên về truyện ngắn. ngoài những tác phẩm kể trên, anh còn có các tập truyện Nắng đẹp miền quê ngoại, Người yêu và mùa thu, tập truyện Anh Thơm râu rồng, Tiếng khóc và tiếng hát...

 Đó là Giữa lòng thành phố (truyện ký), Vùng tranh chấp (tiểu thuyết),Bông súng đỏ (tập truyện), Cô biệt động (tập truyện), Dòng sông nước mắt (tiểu thuyết) của Thanh Giang.

Đó là Lá cờ Ấp Bắc (ký), Trên vành đai Bình Đức (ký), Khi người con gáiNam Bộ cầm súng  (truyện) của Võ Trần Nhã.

Ngoài ra, còn có những tập truyện như Chuyện tình ngày xưa  (của Đoàn Tứ), Làng nhỏ bên Hàm Luông (của Lê Tâm), Tiếng chuông trôi trên sông (của Vũ Hồng), Thập khúc (của Nguyên Tùng); tập thơ Trăng hoàng hôn (của Kim Ba), Hạt muối nhỏ (thơ thiếu nhi của nhiều tác giả), Tuyển tập thơ Bến Tre 1945-2000, Tuyển tập văn 1945-2000...

Về kịch bản sân khấu có Quê hương và mẹ (của Vĩnh Xuân), Hào quang và bóng tối (của Lê Huỳnh, Hoàng Dũng và Huy Lam), Ánh đuốc êm xuân  (của Ngô Mạn), Rừng ông Gốc (của Huỳnh Thị Đằng), Cay đắng tình đời, Quê hương và ánh lửa (của Vĩnh Xuân và Huỳnh Thị Đằng)...

Nhìn chung, qua chặng đường phát triển của văn nghệ Bến Tre trong những năm qua, hai đề tài chủ yếu vẫn là: đề tài về chiến tranh, hay nói rộng ra là đề tài truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân trong tỉnh nổi bật lên đề tài về Đồng Khởi của những năm đầu thập kỷ 60 và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, đọc những trang viết về thời kỳ này từ hồi ký, truyện ngắn, thơ, kịch bản như Không có con đường nào khác, Ngọn lửa thần kỳ, Những ngày Đồng khởi, Từ trong gian khổ đứng lên, Đội quân tóc dài, Bên bờ Hàm Luông, Mặt trời đêm, Tiếng hát trái tim...  độc giả mới cảm nhận được vẻ đẹp của những con người bình dị, giàu lòng yêu quê hương đất nước, không chịu sống quỳ, sống nhục, dám đứng lên thay đổi vận mệnh của mình.

Những sáng tác về đề tài chiến tranh từ sau ngày giải phóng của các cây bút ở Bến Tre đã có một bước tiến khá rõ so với những truyện ký, những tập sách “Đất anh hùng, hoa dũng sĩ" xuất bản trong thời kỳ chống Mỹ về cả hai phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.

Về đề tài Đồng khởi, có lẽ đáng chú ý nhất là quyển Dòng sông nước mắt  của Thanh Giang (NXB Tác phẩm mới,1989). Cho đến nay, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về phong trào Đồng khởi ở Bến Tre và cũng cả ở miền Nam. Chủ đề chính toát lên từ gần 300 trang sách của Dòng sông nước mắt  không nhằm tô đậm tội ác dã man của kẻ thù qua chính sách tố cộng, diệt cộng đẫm máu của một vùng quê, mà nhằm chứng minh một chân lý: "Dân là gốc". Thông qua số phận của hàng loạt nhân vật với những tình huống nghiệt ngã, đau thương tột cùng, tác giả muốn nói với người đọc rằng: "Không có dân, thì không thể có Đồng khởi được”. Về phương diện này, có thể nói tác giả đã đạt được thành công nhất định.

Đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã được nhiều cây bút chú ý. Có thể kể tới "Những giọt nước mắt" của Võ Trần Nhã, “Ở tập đoàn chợ Xép"của Nguyên Tùng viết về các điển hình trong nông nghiệp“Người tập đoàn trưởng" của Đoàn Tứ, “Đất nhà" của Lê Hồng Phương, "Nước chảy qua cây dừa quý"  của Trường Thanh tập trung biểu dương những hạt nhân tiêu biểu của làng xóm Bến Tre đang chuyển mình theo cung cách làm ăn mới.

Công tác lý luận, phê bình, sưu tầm nghiên cứu vốn văn học cổ đã được những người lãnh đạo văn nghệ ở Bến Tre quan tâm khá sớm. Hầu như những sáng tác của các cây bút trong tỉnh đều được giới thiệu, phê bình đều đặn trên các báo chí của địa phương, nhất là trên tờ Văn nghệ Bến Tre.

Công tác sưu tầm, nghiên cứu vốn văn học cổ của tỉnh được xúc tiến mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ngành Văn hóa – Thông tin, Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu và Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy cùng phối hợp với Viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre tổ chức những cuộc điều tra, khảo sát tìm hiểu ảnh hưởng của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu trong nhân dân, kết hợp với việc sưu tầm vốn văn học Hán Nôm, văn học dân gian trên nhiều địa bàn trong tỉnh. Những kết quả thu được từ nơi quê hương thứ hai của Cụ Đồ đã góp phần có ý nghĩa cho việc xuất bản cuốn "Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời" (Ty VHTT Bến Tre,1983 ).

Năm 1982, tỉnh đã tổ chức hội nghị khoa học có tính chất cả nước về Nguyễn Đình Chiểu với sự phối hợp với hai tỉnh bạn Đồng Nai, Long An và Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ. Tham dự hội nghị có các đơn vị: Viện Văn học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tổng hợp và Sư phạm Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị được đánh dấu bằng tập Kỷ yếu khoa học với tựa đề "Nguyễn Đình Chiểu" gồm 91 bài viết chọn lọc trong số 106 tham luận từ các nơi gởi về. Có thể nói đó là một cuộc hội nghị khoa học về nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX lớn nhất từ trước đến nay.

Cùng với việc nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu, việc điều tra xác minh về nguồn gốc quê quán, gia phả cùng những sáng tác của nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị cũng là một việc làm có ý nghĩa. Việc làm này đã góp phần đính chính những điều sai sót từng bị lặp đi lặp lại về nhà thơ (người sau trích dẫn cái sai của người đi trước và cứ thế...) trên nhiều công trình xuất bản trước đây như "Lược sử tác gia Việt Nam", "Từ điển văn học" và cả trên nhiều cuốn sách giáo khoa đã xuất bản từ 1989 về trước. Ngoài những số đặc san kỷ niệm về Phan Văn Trị, Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre còn cho xuất bản cuốn "Phan Văn Trị - quê hương, con người và tác phẩm" của Nguyễn Văn Châu.

Về việc sưu tầm và nghiên cứu vốn văn nghệ dân gian của tỉnh trước hết phải kể đến cuốn "Dân ca Bến Tre" ( Sở VHTT Bến Tre, 1989 ) của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ và nhà thơ Lê Giang, và cuốn "Văn học dân gian Bến Tre"( NXB KHXH, 1988) do Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bích Liên sưu tập và giới thiệu. Ở tập thứ nhất, các tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ các thể loại dân ca Bến Tre, hình thức và môi trường diễn xướng, cùng cấu trúc nghệ thuật của từng làn điệu. Đây là một trong những công trình biên soạn về dân ca của một địa phương thuộc loại sớm ở Nam Bộ, mở đầu cho việc xuất bản một loạt tập dân ca của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong những năm sau đó. Cuốn thứ hai, "Văn học dân gian Bến Tre", là một công trình được tiến hành trong gần 10 năm trời, bao gồm việc sưu tầm, chỉnh lý, sắp xếp lại một cách hệ thống, kèm theo phần phân tích, đánh giá của các tác giả nói trên. Có thể nói hai tập sách trên đã bổ sung cho nhau, tạo nên những đường nét cơ bản về diện mạo văn nghệ dân gian vốn rất phong phú của vùng đất ba dải cù lao này.

Nói đến thành tựu của chặng đường phát triển văn học của tỉnh từ sau ngày giải phóng đến nay, không thể không đề cập đến việc tạo nên một công chúng văn học mới. Đương nhiên, ngay từ trong kháng chiến gian khổ, một công chúng văn nghệ mới cũng đã dần dần hình thành song song với sự nghiệp xây dựng nền văn nghệ cách mạng buổi đầu. Quần chúng không chỉ đóng vai trò của người thưởng thức mà còn tham gia sáng tác văn nghệ. Nhưng phải nói rằng, chỉ từ sau ngày giải phóng, chúng ta mới có đầy đủ điều kiện để tạo nên một công chúng văn học mới nói riêng và văn nghệ nói chung.​

Đã ban hành
Nhà cửaNhà cửa
​Cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở của Bến Tre chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các sông, rạch, kênh đào, có con đường đất chạy song song theo dòng nước nối từ nhà này sang nhà khác, kéo dài từ đầu xóm cho đến cuối xóm và có thể tiếp tục đi xa hơn nữa.
​Cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở của Bến Tre chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các sông, rạch, kênh đào, có con đường đất chạy song song theo dòng nước nối từ nhà này sang nhà khác, kéo dài từ đầu xóm cho đến cuối xóm và có thể tiếp tục đi xa hơn nữa. Dạng thứ hai là loại nhà cất dọc theo các trục giao thông bộ, một bên hay cả hai bên đường còn tùy thuộc vào địa thế của từng nơi.

Nhà lớn hay nhỏ đều có sân và vườn (không kể ở các thị tứ, bến sông, bến đò, bến phà, nhà được xây cất sát mép đường để tiện việc buôn bán, bán hàng quán). Thông thường qua ngõ thì đến sân rồi nhà, sau nhà là vườn, nếu đất rộng thì vườn nằm cả hai bên nhà, có trồng cây ăn quả. Quanh vườn là hàng rào cây xanh như bông bụt, chè tàu, kim quýt. Hàng rào mang tính chất quy ước về ranh giới, hay để trang trí hơn là vì mục đích bảo vệ, chống trộm cướp. Cổng vào nhà cũng vậy, thường có ít cửa đóng, đôi khi chủ nhà trồng hai cây bông giấy ở hai bên và uốn giao nhau thành một vòm cong để thêm đẹp nhà. Các quãng dọc theo hàng rào, người ta hay trồng xen những trái cây ăn quả như dừa, xoài, mận, mít hay cây lấy gỗ như so đũa, tràm bông vàng, mù, u, bạch đàn. Tùy theo địa thế rộng hay hẹp và cũng tùy điều kiện kinh tế, sở thích của từng người, mà cách bố trí ngôi nhà trong khuôn viên có khác nhau theo mấy dạng chính sau đây.

  1. Sân - nhà - vườn 
  2. Vườn - sân - nhà - vườn - ao cá 
  3. Sân - nhà - bến nước (do đất hẹp, nằm sát mé sông hay rạch) 
  4. Sân - nhà - vườn sau - vườn hai bên (ngôi nhà nằm ở trung tâm khu vườn) 

Bến Tre thuộc vùng quanh năm nắng nóng, nhưng nhờ nằm trên các cù lao bao bọc bởi những sông lớn và một hệ thống kênh rạch đan, cắt chằng chịt, nên khí hậu được điều hòa, không nóng quá và cũng không lạnh quá. Do đó, nhà cửa của người Bến Tre nói chung đều xây cất thích nghi với môi trường, đất đai, và thời tiết ở địa phương. Nhà có thể được xây cất lớn hay nhỏ bằng gạch hay bằng lá tùy theo điều kiện kinh tế của gia chủ, nhưng Bến Tre ít có kiểu “nhà đạp”, “nhà đá” (nghĩa là xây cất quá tạm bợ) như ở Bạc Liêu, Cà Mau hay Đồng Tháp Mười. Đại đa số nhà ở nông thôn Bến Tre được làm bằng gỗ, lá. Nguyên nhân chủ yếu vì tỉnh nghèo về vật liệu xây dựng, nếu mua ở nơi khác đường vận tải xa, giá thành cao, thêm vào đó, Bến Tre lại bị tàn phá nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh vừa qua. Theo các cụ cao tuổi thì xưa kia Bến Tre có rất nhiều tre và cây cổ thụ như sao, dầu, chứ không như bây giờ, lại có nhiều cây gỗ khác như mù u, trâm bầu, mít, sầu đâu ở ngay nơi vườn. Bến Tre xa núi, không có tranh, nhưng lại giàu lá dừa nước. Dừa nước bền hơn tranh và rơm rạ, dùng lợp nhà, làm vách che cũng đẹp hơn. Lá lợp hàng năm thừa cho nhu cầu trong tỉnh, phải bán sang các nơi khác.

Nếu như ở miền Bắc, mặt nhà quay về hướng nam được coi như là một sự đúc kết có tính quy luật, vừa để tránh được ngọn gió mùa đông bắc, vừa để đón nhận ánh sáng và những tia nắng ấm mặt trời, thì ở miến Nam, người ta vẫn lưu truyền câu" Lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng nam" tuy nhiên đó không phải là một yêu cầu bắt buộc, bởi vì không nhất thiết các nhà đều phải như thế. Việc quay mặt nhà về hướng nào hoàn toàn tùy thuộc vào sự tiện lợi, hợp lý nhất của địa cuộc và cảnh quan chung quanh. Nếu phía trước là con lộ hay dòng sông lớn, thì nhất thiết mặt nhà phải hướng về phía đó, dù là hướng đông hay bắc. Nhà quay mặt ra sông vừa đón làn gió mát từ dòng sông mang lại, vừa chứng kiến cảnh rộn rịp, đông vui của thuyền bè xuôi ngược, tận hưởng cái đặc ân của thiên nhiên "Một cửa thấy sông nước". Ở cùng một xóm, dù quay mặt ra sông rạch, hay quay về phía mặt lộ (đường liên tỉnh, liên huyện, liên xã) thì vườn nhà này thường liền với vườn nhà kia, mà ranh đất là con mương nhỏ ngập nước.

Xưa, việc dựng nhà được quan niệm như là một trong những việc hệ trọng do đó ngoài việc chọn "cuộc đất" vừa ý rồi, còn phải xem ngày lành tháng tốt để dựng nhà, có lễ cúng Thổ địa (thần đất) và tuân thủ một số điều kiêng cữ. Nghèo thì cúng con gà, đĩa xôi, cùng hoa quả. Giàu thì làm đình đám hơn. Nhà khi dựng lên còn có lá bùa bằng mảnh vải đỏ vẽ hình bát quái treo tòn teng dưới đòn dông ở gian giữa. Có người treo nguyên cả cuốn lịch Tàu. Ngày nay, những tập tục mê tín dị đoan về địa lý, phong thủy cũng như một số tín ngưỡng, kiêng kỵ, lạc hậu đã giảm đi khá nhiều. Tuy nhiên một tập tục mang tính cộng đồng của đồng bào cùng xóm cùng làng, tối lửa tắt đèn có nhau vẫn được lưu giữ. Đó là trong làng xóm có người nào làm nhà mới thì những người chung quanh coi như có bổn phận đến giúp đỡ không lấy tiền công. Dưới quyền chỉ huy của người thợ cả, họ mỗi người một việc, thạo gì làm nấy để giúp gia đình chủ lắp ráp, xây dựng ngôi nhà. Nhiều nơi khi dựng nhà, người ta còn bắt vợ lẫn chồng chủ nhà cùng nâng hai đầu cây đòn dông, hay cùng sờ tay vào cây cột cái với hàm ý rằng đây là "của chồng công vợ" tạo nên và họ sẽ sống hạnh phúc với nhau trong ngôi nhà ấy. Gác sang một bên quan niệm dị đoan, ta thấy đằng sau cái động tác tượng trưng ấy một biểu hiện của tinh thần dân chủ, bình đẳng giữa vợ và chồng trong đời sống thôn dã. Khi sườn nhà đã đặt trên các hàng cột, người thợ cả lấy cây "thước tổ" mà ông ta dùng để đo tính toán lắp ráp ngôi nhà đặt trên chiếc bàn ở giữa nhà trên có lễ vật, hương hoa bày sẵn. Mọi người đến giúp dựng nhà đều đứng nghiêm mắt ngước lên phía nóc nhà như biểu thị sự hài lòng và vui mừng chúc tụng chủ nhà mọi sự tốt lành như ý.

Đã ban hành
Mỹ thuậtMỹ thuật
​Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.

Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.

Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1947, Diệp Minh Châu vẽ bức tranh Bác Hồ với thiếu nhi Bắc – Trung – Nam bằng chính máu của mình, tác phẩm hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội. Diệp Minh Châu có vinh dự được sống gần Chủ tịch Hồ Chí Minh một thời gian dài và có sáng tác nhiều tranh, tượng về Bác Hồ.

Họa sĩ Lê Văn Đệ (1906-1966), sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với hạng xuất sắc nhất, năm 1931, được một học bổng sang Pháp học tại Trường Mỹ thuật Paris. Ông đoạt giải hội họa của Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp, nên được nhận tiếp một học bổng đi tu nghiệp ở Ý và Hy Lạp. Năm 1936, về nước hoạt động nghệ thuật và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ nghệ Gia Định (Sài Gòn). Năm 1954, Lê Văn Đệ có nhiều tác phẩm lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Pháp, Bảo tàng Mỹ thuật Hy Lạp và Tòa thánh Vatican.

Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), họa sĩ Chi Lăng và Đạt Huỳnh có nhiều tác phẩm thể hiện cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam Bộ. Thời chống Mỹ, có họa sĩ Huỳnh Công Thu, quê xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, sau khi tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội, đã về Nam tham gia chiến đấu và đã hy sinh tại Đồng Tháp Mười (1964). Họa sĩ Lê Tấn hy sinh tại quê nhà năm 1964. Họa sĩ Viễn Phương hy sinh năm 1968. Họa sĩ Võ Kế Nghiệp tập kết ra Bắc, sau đó được cử đi học ở Đại học Mỹ thuật Kiép (Ukraina), ngành lý luận phê bình. Năm 1968, về nước, rồi vào Nam tham gia chiến đấu, hy sinh tại Đồng Tháp Mười (1969). Họa sĩ Phan Văn Thiện cũng hy sinh trong năm này.

Sau Đồng khởi (17-1-1960), tổ hội họa thuộc Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Bến Tre trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thốn mọi phương tiện, đã sáng tạo ra loại phim đèn chiếu bằng cách vẽ trực tiếp lên phim nhựa, dùng đèn manchon và kính lúp, ly nước để tạo thành "máy chiếu phim" thủ công phục vụ cho công tác tuyên truyền. Hai bộ phim đèn chiếu tiêu biểu là Binh ong, bom Mỹ đại chiến” và Em gái Lương Hòa".

Khi vùng giải phóng của tỉnh được mở rộng, nhiều hội viên của Hội Mỹ thuật giải phóng đã về Bến Tre, phối hợp cùng với anh chị em họa sĩ tại chỗ sáng tác tranh, ghi lại cuộc chiến đấu hào hùng của nhân dân, tổ chức in tranh thạch bản và trưng bày tranh phục vụ đồng bào. Nhiều ký họa phản ánh người và đất Bến Tre thời chống Mỹ cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị nghệ thuật. Tranh của "quê hương Đồng khởi" cũng đã từng được trưng bày trong một triển lãm tại thủ đô Hà Nội.

Từ sau chiến thắng lịch sử 30-4-1975 đến nay, nhiều tranh tượng của các tác giả ở Bến Tre đã đoạt giải thưởng của Hội Mỹ thuật Việt Nam, của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Hàng chục hội viên của Hội Mỹ thuật Bến Tre là hội viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Một số khá đông đang công tác ở Hội Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, nhiều người đang giảng dạy ở Trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh.

Đã ban hành
Lễ hộiLễ hội
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú.
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú. Hàng trăm tàu thuyền đánh bắt cá của huyện, của tỉnh và các tỉnh bạn như Tiền Giang, Trà Vinh thậm chí các tỉnh xa hơn nữa, trong khi hành nghề thuận tiện vẫn tập trung về nơi cửa Đại cùng ngư dân Bến Tre tham gia lễ hội Nghinh Ông.

Lễ hội thứ hai mang ý nghĩa văn hóa - lịch sử là lễ hội Nguyễn Đình Chiểu,  (nay là Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre) tổ chức vào ngày 1 tháng 7 hàng năm tại cụm đền thờ, mộ nhà thơ (nay là Khu di tích Đền thờ và Lăng mộ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu) tại xã An Đức, huyện Ba Tri với hàng ngàn người tham dự. Thường trong dịp này, có những đoàn khách của tỉnh bạn, của một số ngành Trung ương về cùng tham dự. Từ 1975 sau ngày giải phóng đến nay, chính quyền địa phương với sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa đã đầu tư công sức, tiền bạc để tôn tạo khu vực này thành một di tích lịch sử có giá trị mang ý nghĩa giáo dục về tinh thần yêu nước, thương dân. Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một nhà thơ có tầm cỡ của nửa sau thế kỷ XIX, mà còn là một nhà giáo, một thầy thuốc giàu tâm huyết.

Ngoài ra ở Bến Tre còn có những lễ hội hướng về truyền thống cách mạng như: lễ hội Đồng Khởi, được tổ chức ngày 17 tháng 1 hằng năm, với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, đồng thời cũng thu hút một số lượng khách đáng kể của các tỉnh thành bạn cùng tham dự.

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trang phụcTrang phục
​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải.

​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải.

Đề cập đến việc ăn mặc của đại đa số dân chúng, trước hết cần nói đến bộ đồ bà ba. Cho đến nay chưa có tài liệu nào nói rõ bộ bà ba xuất hiện ở thời điểm nào. Có ý kiến cho rằng áo bà ba là kiểu áo du nhập từ đảoPinăng của người Bà Ba (người Mã Lai gốc Hoa). Lại có ý kiến cho rằng áo bà ba có những nét giống cái "áo đàn ông cổ tròn (cổ kiềng) và cửa ống tay hẹp", mà Lê Quý Đôn đã quy định cho dân từ Thuận Quảng trở vào ở cuối thế kỷ XVIII.

Nhưng có điều chắc chắn là bộ bà ba không thể xuất hiện sớm hơn lúc sách Gia Định thành thông chí ra đời, nghĩa là vào khoảng thế kỷ XIX. Tác giả Trịnh Hoài Đức đã ghi lại y phục của người Gia Định lúc bấy giờ như sau: "Gia Định là cõi phía nam nước Việt, khi mới khai thác thì có lưu dân nước ta cùng Đường nhân (chỉ người Hoa kiều - BS). Duy có người Việt noi theo tục cũ Giao Chỉ. Hạng sĩ tử và hạng thứ dân thì búi tóc, đi chân trần, con trai con gái đều mặc áo vắn tay, bận thẳng, may kín hai nách..."(1).

Quan sát kỹ chiếc áo bà ba mà nay người Hoa ở Chợ Lớn còn hay mặc, ta thấy có mấy đặc điểm sau đây: Cổ tay áo đứng cao 3cm, ở cổ có 3 hàng nút, thân áo xẻ giữa có 5 đến 6 nút, khuy cài nằm ngang, có 3 túi, tay áo rộng, thường được may bằng vải kẻ sọc. Còn chiếc áo bà ba mà đồng bào ta thường mặc hiện nay, chỉ có 5 hoặc 6 nút, có hai túi ở phần dưới hai vạt trước. Ngày trước, người ta thường dùng nút đồng, hay nút xương tròn nên đơm khuy dài. Về sau, người ta dùng nút bằng sứ trắng, hoặc màu, hay nút nhựa thì có khuy xẻ. Thuở chưa có vải khổ rộng nhập cảng của người Anh từ Ấn Độ đưa sang, mà nhân dân ta thường gọi bằng cái tên chung là "vải Tây", thì vật liệu may mặc lúc bấy giờ chủ yếu là vải, lụa đũi bằng tơ tằm nội địa sản xuất từ Ba Tri, Tân Châu hay từ miền Trung đưa vào.

Về màu sắc, phổ biến nhất trước đây là màu đen. Thời chưa có thuốc nhuộm hóa học, người ta thường dùng lá bàng, vỏ trâm bầu, vỏ dà, vỏ sú vẹt, trái mặc nưa... nhuộm rồi phủ bùn để chống thôi màu. Khi có vải nhập cảng, thì lại dùng vải ú, vải sơn đầm, vải chéo go đen, bởi vì màu này phù hợp với điều kiện lao động, đi lại nơi sông rạch, bùn lầy, dễ giặt và chóng khô.

Bộ bà ba hiện nay đã từng trải qua nhiều lần sửa đổi, cách tân để phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của thời đại. Ngày nay, bộ bà ba đã trở thành thứ y phục thông dụng trong cả nước, nhưng bộ bà ba đen thì ở Nam Bộ phổ biến hơn cả. Chiếc áo bà ba cắt khéo làm tôn thêm vẻ đẹp của cô gái ViệtNam có thân hình nở nang, cân đối. Chiếc áo bà ba đã đi vào thơ ca bằng hình tượng khá đẹp. Trong những năm chống Mỹ sôi sục, hình ảnh đội quân tóc dài với áo bà ba và chiếc khăn rằn Nam Bộ đã chiếm nhiều chỗ trang trọng nhất trên các trang báo ngoại quốc với những lời ca ngợi nồng nhiệt đầy chất huyền thoại.

Bộ quần áo bà ba có thể mặc đi lao động ngoài đồng, chèo ghe, mặc ở trong nhà, cả ở nơi đông người. Một số bà con nông dân, nhất là những người đứng tuổi, các cụ già thường mặc bộ bà ba trắng trong những ngày Tết, ngày lễ, trong khi tiếp khách và có xu hướng dùng nó để thay thế chiếc áo dài đen cùng khăn đóng đang trở thành cổ lỗ và phiền phức.

Phụ nữ, thì ngoài màu đen còn dùng nhiều màu sắc sặc sỡ khác, xanh, đỏ, tím, vàng hay in hoa. Thường, phụ nữ nông thôn mặc quần đen là chủ yếu. Lớp thanh niên ngày nay đang có xu hướng mặc sơ mi và chiếc quần Âu bằng vải dày, có nếp, nhiều màu (thay cho màu đen đơn điệu) vừa gọn, vừa trông khỏe, phù hợp với nếp sống công nghiệp đang dần dần hình thành. Và chiếc mũ mềm trên mái tóc cắt ngắn, hoặc uốn của nữ giới, đang thay thế chiếc nón lá cồng kềnh, nhất là không phù hợp với lúc ngồi trên xe đạp, xe máy đi ngược gió, hay ở trên tàu xe.

Cũng xuất phát từ nhu cầu thực tế tiện lợi, lịch sử, đẹp, một xu hướng mặc theo kiểu Âu, áo sơ mi ngắn hoặc dài tay bằng vải kẻ, hoặc vải carô, quần vải dày màu sẫm đang phát triển không chỉ ở lớp thanh niên, mà cả ở người lớn tuổi, không chỉ ở nữ giới, mà cả nam giới.

Chú thích

(1)Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập hạ, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.6.

Đã ban hành
Hào hứng ngao du khám phá Cồn QuiHào hứng ngao du khám phá Cồn Qui
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

 

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

 

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

 

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa.

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lộng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

 

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết kế trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Quần thể thực vật vùng bưng trũngQuần thể thực vật vùng bưng trũng
Đây là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường:
Image
Đây là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường:

- Rừng lá là nơi trũng thấp nước mặn lợ, dừa nước chiếm ưu thế xen lẫn vài bụi bần chua. Một phần diện tích này đã được đắp đê rửa mặn, biến thành những ruộng lúa. Một phần diện tích khác ít bị nhiễm mặn hơn, được người dân đào mương, lên liếp để lập các vườn dừa. Đây là đất thích hợp nhất với cây dừa chiếm một phạm vi tương đối rộng trong tỉnh. Dừa trồng trên đất này có hàm lượng dầu cao.

- Rừng tràm ở vùng trũng, đất phèn mặn đã được rửa lâu ngày qua nước mưa và nước sông. Diện tích đã bị khai phá để canh tác lúa, hoặc bị thay thế bởi cỏ năn như trường hợp gặp ở khu vực Đồng Gò của huyện Giồng Trôm.

- Rừng úng nước ngọt không bị ảnh hưởng mặn hoặc phèn, với cấu trúc gồm nhiều loài thảo mộc như cà na, chiếc, gừa, săn máu, bần chua, bình bát, gáo, dứa gai v.v... xen lẫn ở tầng dưới có các loài chuối nước, dây choại, dây cương, bòng bong, mây nước, mua, tràm bột, dành dành, lau sậy, lác hến, lúa ma, tâm bức, rau dừa, rau mác, sen, súng v.v...

Kiểu rừng nguyên thủy này khi xưa chiếm một diện tích khá rộng, nhưng nó đã bị những lưu dân khai phá, biến thành ruộng lúa, vườn cây ăn trái, hoặc đất trồng rau màu. Thảm thực vật nguyên thủy với sự hiện diện các khu rừng trên địa bàn tỉnh xưa kia là điều kiện đảm bảo tính phong phú, đa dạng của các loài thực vật và động vật hoang dại có thể tồn tại, giữ được cân bằng sinh thái trong tự nhiên.

Lúc đầu, khi số dân còn ít, con người có thể tận dụng các sản phẩm của thảm thực vật tự nhiên và nguồn động vật sẵn có như khai thác củi, gỗ, hái lượm một số loại trái, loại nấm, rau, củ có thể ăn được, săn bắt thú hoang dại để bổ sung cho nguồn lương thực, thực phẩm làm ra đủ để nuôi mình một cách không mấy khó khăn. Đến khi số dân gia tăng ngày một đông, đất rừng bị thu hẹp dần để làm thành đất thổ cư và đất canh tác, nguồn tài nguyên thiên nhiên dần dần cạn kiệt, thì các hoạt động khai thác theo kiểu tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu của con người, mà còn tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên.

Quá trình tác động của con người vào môi trường thiên nhiên thường dẫn đến hai hậu quả:

- Một mặt, con người qua kinh nghiệm lâu đời của cuộc sống đã biết cải tạo thiên nhiên, biến hệ sinh thái tự nhiên thành hệ sinh thái nông nghiệp với năng suất cao, sản lượng nhiều để thỏa mãn nhu cầu sinh sống và phát triển xã hội. Việc khai hoang, đắp đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước, lên liếp trồng cây, đã biến một diện tích rộng lớn đất rừng thành những cánh đồng lúa, mía, màu, những vườn dừa, vườn cây ăn trái, những vuông tôm, ao cá v.v... Việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã giúp con người mở rộng diện tích lúa từ một vụ thành hai vụ, tận dụng các tiềm năng về đất, nước, khí hậu, sinh vật để đem lại cho xã hội những sản phẩm ngày càng dồi dào và phong phú hơn.

- Mặt khác, bên cạnh các thành công trong việc cải tạo thiên nhiên, phát triển sản xuất, cũng có không ít những hoạt động của con người đã gây nhiều tác hại cho tự nhiên, làm hủy diệt thảm thực vật theo hướng bất lợi nhất. Vì thế, tài nguyên trong tỉnh trở nên cạn kiệt nhanh chóng, diện tích rừng bị ngập mặn bị thu hẹp dần, các thú hoang dại gần như bị diệt chủng, các nguồn lợi về tôm, cua, cá giảm sút đến mức báo động, nguồn “gien” thực vật và động vật hoang dại không còn phong phú như trước, làm ảnh hưởng đến công cuộc phát triển kinh tế lâu dài của tỉnh. Quỹ đất của tỉnh quá thấp so với dân số, nhưng một số diện tích lại đang được sử dụng không hợp lý, như thiết lập vườn dừa trên đất phèn mặn, hoặc còn bỏ hoang hoá như vùng đất ven biển. Một số vùng đất phèn tiềm tàng do việc xẻ mương tiêu nước, hoặc lên liếp trồng cây thiếu điều tra, cân nhắc nên đã biến thành đất phèn hoạt động, cuối cùng đất bị thoái hoá nghiêm trọng, có nơi trở thành đất hoang.

Việc hủy diệt rừng ngập mặn ven biển đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn lợi tôm, cua, cá có thể khai thác trong phạm vi rừng và ngoài khơi, chưa kể hậu quả tiêu cực có tính chất dây chuyền, làm mất nơi sinh sống của các loài thú, chim sống trong rừng ngập mặn. Phong trào phá rừng, thiết lập vuông tôm chạy theo mối lợi trước mắt tức thời đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật của khu vực và tạo tình trạng xói mòn, lở bờ và rửa trôi đất ven sông, ven biển.

Tỉ lệ diện tích rừng trên diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bến Tre thuộc loại quá thấp, nên cần phải có kế hoạch quy hoạch rừng một cách hợp lý, bảo vệ và phục hồi những khu rừng thoái hoá hiện có, phủ rừng trên diện tích đất còn bỏ hoang hoá, đẩy mạnh công tác vận động trồng cây trong nhân dân nhằm tăng diện tích cây xanh, đồng thời giảm bớt sức ép về nhu cầu gỗ xây dựng và chất đốt cho nhân dân.

Thảm thực vật, ngoài việc che phủ và bảo vệ đất, chống lở bờ, rửa trôi, điều hoà khí hậu, tạo nơi trú ngụ và sinh sống của nhiều loài động vật hoang dại v.v... còn là nguồn cung cấp tài nguyên rất quý phục vụ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế.

Các loài gỗ như sao, dầu, xà cừ, nhạc ngựa, tràm, gáo, đước, vẹt, tre, bạch đàn, dừa nước v.v... là nguyên vật liệu cho xây dựng nhà cửa và vật dụng sinh hoạt như bàn ghế, tủ, giường, ghe, xuồng v.v... Lá dừa nước, tre, trúc, sậy, xơ dừa, gáo dừa, thân dừa, lác, dây lùng v.v... là nguồn nguyên liệu cho nhiều nghề thủ công trong tỉnh. Lá so đũa, lá mắm được dùng làm thức ăn gia súc. Cây lứt, sen, nhàu, bạc hà, cỏ tranh, cỏ xước, mù u, hà thủ ô là loại dược liệu thông dụng trong Đông y. Ngó sen, bông súng, bông lục bình, bông điên điển, đọt choại, đọt vừng, rau đắng, rau nhút... đã từ lâu được nhân dân dùng làm thực phẩm góp phần làm cho bữa ăn hàng ngày của con người trở nên phong phú và đa dạng.

Chất ta-nanh trích ly từ các vỏ cây dà, đước,vẹt của rừng ngập mặn là nguyên liệu cần cho công nghiệp. Nước ngọt lấy từ buồng dừa nước có thể chế thành nước giải khát lên men, hoặc cất thành cồn. Gỗ bạch đàn, bần, lau, sậy, tre, rơm, rạ là nguyên liệu làm bột giấy.

Rừng và thảm thực vật nói chung, còn góp phần rất quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, chắn gió cát, chống xói lở v.v...

Tóm lại, công dụng và lợi ích của rừng và thảm thực vật nói chung đối với cuộc sống con người rất lớn và đa dạng. Do đó, cần phải có kế hoạch tích cực bảo vệ các nguồn “gien” quý còn tồn tại trong tỉnh bằng cách lập khu bảo vệ, phục hồi lại vốn rừng với hệ chim thú, nguồn thủy hải sản song song với việc đầu tư thích đáng cho công tác điều tra cơ bản có mục tiêu nhằm đặt cơ sở cho việc quy hoạch sinh thái lãnh thổ, bảo vệ môi trường vì lợi ích lâu dài cho những thế hệ mai sau.

Thấy được tầm quan trọng của rừng ngập mặn đối với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, gia tăng nguồn lợi thủy sản, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ven biển, trong thời gian qua tỉnh đã tranh thủ tích cực sự hỗ trợ của Trung ương và bằng nội lực của tỉnh, đã từng bước khôi phục lại vốn rừng bị tàn phá trước đây.

Trong vòng 17 năm (1976 – 1993), đã tiến hành trồng mới 3.894 ha, nhưng tỉ lệ thành rừng còn thấp, chỉ đạt 1.862 ha (47,8%), đưa diện tích đất có rừng trong toàn tỉnh đến năm 1994 là 6.126 ha, chiếm 43,6% diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp.

Từ năm 1994, được sự hỗ trợ Chương trình 327/TƯ, tỉnh Bến Tre đã tiến hành quy hoạch lâm nghiệp, gia tăng tốc độ trồng rừng. Trong 5 năm, tốc độ trồng rừng tăng khá nhanh, đạt 2.228 ha (trong đó, rừng phòng hộ 1.453 ha, rừng sản xuất 775 ha). Đây là một cố gắng lớn của tỉnh. Tuy nhiên, so với nhiệm vụ còn lại theo mục tiêu đến năm 2000 phải xây dựng được 528 ha rừng phòng hộ, 2.350 ha rừng sản xuất, thì nhiệm vụ còn lại hết sức nặng nề và khó có khả năng thực hiện được vì lẽ:

- Một phần diện tích quy hoạch lâm nghiệp đã có ngư trường của dân đang khai thác.

- Đất giồng cát và cồn cát khó thực hiện việc trồng rừng và tạo điều kiện cho cây phát triển nhanh chóng.

Do đó, để phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, tỉnh đã quyết định điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp với định hình khu vực rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre là 10.416 ha với vai trò chủ yếu là rừng phòng hộ (3.275 ha), rừng đặc dụng (3.998 ha), rừng sản xuất kết hợp với lâm – ngư nghiệp (2.273 ha), xây dựng vườn hộ (820 ha), đất sử dụng vào mục đích khác (50 ha). Việc điều chỉnh quy hoạch phù hợp với điều kiện thực tế rừng ngập mặn của tỉnh. Giá trị thực tế của rừng ngập mặn về lâm sản không lớn, nhưng giá trị về sinh thái và bảo vệ bờ biển, làm trong sạch môi trường không khí nước, gia tăng nguồn lợi thủy sản là rất lớn.

Việc quy hoạch định hình khu vực lâm nghiệp, xác định ranh giới cụ thể với khu vực quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản là một giải pháp cơ bản để giải quyết mối quan hệ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp, góp phần tích cực vào việc hạn chế phá rừng làm ao nuôi tôm phổ biến ở vùng ven biển Bến Tre trong các năm qua.

Bên cạnh việc phục hồi vốn rừng, tỉnh đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ "đa dạng sinh học”, nguồn “gien” động vật, thực vật của hệ sinh thái rừng ngập mặn nơi cửa sông, ven biển các nhánh sông Cửu Long thông qua xây dựng và triển khai 2 dự án sau đây:

* Dự án xây dựng khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ (huyện Ba Tri) với diện tích 67,657 ha ở khu vực cửa sông Ba Lai với thảm thực vật tự nhiên là chà là, đước, dừa nước, lau, sậy... phân bố trên một hệ thống kênh rạch chằng chịt. Đó là điều kiện sinh cảnh thích hợp cho các chủng loại cò, vạc... tụ về làm tổ và sinh sản. Tại sân chim Vàm Hồ hiện có đến hàng trăm ngàn cá thể tập trung các loại cò trắng, cò ngàng nhỏ, cò ma, cò ruồi, vạc, quắm trắng, diệc xám...

Theo kết quả điều tra, hiện có 7 loại chim có số lượng đông nhất. Trong các lùm cây bụi hay gần mé nước còn có các loại chim quốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp lớn, bìm bịp nhỏ, thằng chài, chẽo chụt, bông lau, chích chòe, chèo bẻo đuôi cờ...

Dự án sẽ phát triển thêm diện tích rừng của khu vực để tạo điều kiện duy trì và phát triển quần thể loài chim kết hợp với việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển loại hình du lịch sinh thái ở phía ven biển Bến Tre.

* Dự án đầu tư phát triển khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước ở huyện Thạnh Phú với diện tích 8.825 ha nằm trên 3 xã An Điền, Thạnh Phong, Thạnh Hải. Khu vực rừng ngập mặn này là vùng đất ngập nước độc đáo ở cửa sông Cửu Long – nơi đã được ghi nhận là vị trí quan trọng trong thư mục các vùng đất ngập nước của các nước Đông Nam Á. Các đặc điểm của hệ sinh thái đất ngập nước ở Thạnh Phú khá tiêu biểu cho vùng sinh thái ở cửa sông Cửu Long với những nét khác biệt so với các vùng đất ngập nước ven biển khác ở đồng bằng sông Cửu Long.

Đó là các đặc trưng về địa mạo, đất đai của vùng này đã bị chi phối mạnh mẽ bởi sông Cửu Long và biển Đông, nên có những giồng cát chạy song song với bờ biển. Xen giữa các giồng cát là những trảng trũng, rừng ngập mặn.

Đó là tính chất của môi trường nước (đặc biệt là độ mặn của nước) thay đổi theo mùa, nên thành phần các loài thực vật và thủy sinh vật ở đây khá phong phú, gồm nhiều chủng loại đặc trưng của môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn.

Đó còn là nơi phát triển các loài cây tiền phong, loài cây ưu thế của hệ thực vật sống trong môi trường nước lợ, có độ mặn thấp. Trong khi đó, các loài cây tiền phong và cây ưu thế của hệ thực vật ở tại vùng bờ biển khác lại là những loài cây sống trong môi trường độ mặn cao.

Rừng ngập mặn ở vùng cửa sông Cửu Long có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái ở vùng cửa sông (nơi giao lưu giữa đất liền và biển cả). Rừng ngập mặn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, cung cấp nguồn giống động vật và thực vật, bảo vệ bờ biển, hỗ trợ quá trình phát triển bền vững của vùng ven biển, làm sạch môi trường nước, không khí, hạn chế sự lan truyền nước mặn vào sâu trong nội đồng. Sự tồn tại và phát triển của rừng ngập mặn nơi cửa sông Cửu Long có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của tỉnh Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Trong hai cuộc KCCP và KCCM, rừng ngập mặn Thạnh Phú và Bình Đại là căn cứ địa hình của tỉnh, của lực lượng vũ trang tỉnh, miền, là đầu cầu tiếp nhận vũ khí chi viện từ Trung ương cho chiến trường Nam Bộ. Riêng rừng Thạnh Phú giữ vị trí đầu cầu tiếp nhận vũ khí của đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiều năm liền. Ngày 23-12-1995, Bộ Văn hóa – Thông tin đã có Quyết định số 3777-QĐ/BT công nhận khu rừng xã Thạnh Phong là "Di tích lịch sử đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam" thời KCCM.

Với lý do trên, việc xây dựng và thực hiện dự án đầu tư phát triển khu bảo tồn thiên nhiên vùng đất ngập nước Thạnh Phú có một ý nghĩa quan trọng, nhằm bảo vệ một mẫu sinh cảnh độc đáo vả bảo vệ môi trường đa dạng sinh học vùng cửa sông, đồng thời cũng để bảo vệ một khu di tích lịch sử mang đậm tinh thần yêu nước bất khuất của nhân dân một vùng đất kiên cường trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Việc duy trì và bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên vùng đất ngập nước này còn phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái.

Đã ban hành
Thờ phụng tổ tiênThờ phụng tổ tiên
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong ả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả.
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong cả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả. Đó là đạo thờ ông bà của người Việt đã tồn tại qua thời gian hàng chục thế kỷ.

Qua khảo sát nhiều nơi trong tỉnh, ta thấy mỗi gia đình đều có bàn thờ gia tiên.Có khác nhau chăng ở cách bố trí nơi thờ tự ở trong nhà và việc bày biện các đồ thờ trên bàn thờ giữa những gia đình giàu có, trong những ngôi nhà xưa hay trong những ngôi nhà xây cất hiện đại ngày nay, giữa những nhà khá giả và những nhà bình dân.

Qua điều tra khảo sát ở Bến Tre cũng như nhiều tỉnh khác ở Nam Bộ, rất ít thấy nhà thờ tộc (họ) như ở miền Trung và miền Bắc. Tuy nhiên, ở những gia đình, dòng họ lớn, con cháu chung nhau làm nhà thờ, hoặc duy trì ngôi nhà xưa của ông bà để lại làm nơi thờ cúng, gọi là từ đường. Nhiều gia đình vẫn còn giữ được những bản gia phả, hoặc bằng chữ Hán, hoặc phiên thành chữ quốc ngữ ghi chép lại nguồn gốc, quá trình di chuyển từ nơi nay sang nơi khác, chức tước, công trạng, nghề nghiệp của người xưa v.v... Chính nhờ những nguồn tài liệu quý giá này, mà ngày nay chúng ta hiểu rõ được con đường, cách thức di chuyển, những nơi dừng chân, địa bàn cư trú của những lớp lưu dân ở vùng đất này. Cũng không hiếm trường hợp thay đổi tên họ do những biến động về chính trị, hay để tránh những cuộc truy bức, khủng bố của bên này hay bên kia, kể cả thực dân đế quốc.

Ở nông thôn, nhà dù nghèo khó đến đâu, không sắm được chiếc bàn bằng gỗ, thì cũng đóng một chiếc chõng tre, hay bằng tầm vông, cao ngang ngực, trên mặt đan vỉ hay ken tre, trên cùng trải chiếc chiếu con, người bình dân quen gọi là giường thờ. Trên giường thờ cũng đặt bánh hương, chân đèn bằng sành, để đĩa đựng dầu thắp, lọ cắm hoa v.v...

Đối với người giàu cũng như người nghèo, ngày giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ là "ngày tang trong suốt đời” (chung thân chi tang) để con cháu và người thân tưởng nhớ đến người đã khuất. Vì vậy, người dân có tập quán dành những món ngon nhất, tốt nhất, từ vật nuôi đến trái cây theo mùa vụ, cân nếp, cân đậu (dùng để nấu xôi, gói bánh) cho đám giỗ người thân. Nếu phải đi mua từ ngoài chợ, thì cũng phải chọn miếng thịt tươi, con cá ngon, con gà béo tốt để về làm thức dâng cúng. Vì mỗi năm chỉ cúng giỗ một lần, cho nên mọi người đều cho lễ giỗ là trọng, từ bà con xa gần đến cả đồng hương, đồng xóm, cũng như bạn bè thân thích. Dù làm việc ở nơi đâu, gần hay xa (dĩ nhiên trừ những hoàn cảnh cách bức quá lớn) con cháu trong gia đình phải nhớ ngày mà về.

Những gia đình khá giả thường làm lễ cúng tiên thường với lễ vật đơn sơ, gọn nhẹ từ nhiều hôm trước (như hàm ý mời gọi người thân đã quá cố hãy vui vẻ mà về với con cháu). Ngày hôm sau mới là ngày giỗ chính. Thường thì giỗ cha, giỗ mẹ, con cái làm lễ to, rồi trở lên mỗi đời xa hơn thì lễ giỗ tổ chức đơn giản hơn, không mời mọc nhiều người. Bà con, bạn bè đến ăn giỗ thường mang theo hương hoa, trái cây, rượu, bánh, trà để dâng cúng và lễ lạy trước bàn thờ người đã khuất, sau đó mới ngồi vào dự tiệc.

Đã ban hành
Sân khấuSân khấu
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa...

​Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa... Căn cứ vào nội dung và giá trị nghệ thuật, ở đây chỉ giới thiệu 4 thể loại dân ca tiêu biểu của tỉnh

  •  
  • nói thơ Vân Tiên
  • hát sắc bùa..

Phát triển trên vùng đất 3 cù lao nằm giữa các nhành sông Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên, hò Bến Tre hình thành theo hai hệ thống: hò trên sông nước và hò trên cạn. Cũng như vôn văn nghệ dân gian nói chung, hò Bến Tre có cội nguồn từ miền đất cũ do những thế hệ lưu dân người Việt mang theo cùng với hành trang khác của mình trên đường di chuyển để tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn về phương Nam.

Hò trên sống nước gồm có:

  • Hò chèo thuyền (chèo ghe)
  • Hò mái đoản (mái cụt)
  • Hò mái trường (mái dài)

Hò trên cạn gồm có

  • Hò cúng chùa
  • Hò bản đờn
  • Hò lờ
  • Hò cấy lúa
  • Hò đối đáp.

Dù hò trên sông hay hò trên cạn, tiếng hò Bến Tre, do những điều kiện làm ăn sinh sống và do khung cảnh thiên nhiên qui định, nên có phần thanh nhàn và ung dung hơn so với hò miền Trung hay miền Bắc với tiết tấu khỏe, gấp rút, vội vàng. Là một loại hình nghệ thuật dân gian, hò Bến Tre cũng có lề lối diễn xướng riêng. Hò trong lao động, hò giải trí trong lúc nghỉ ngơi, hò trong lễ hội, hò để đua tài cao thấp, hò trong môi trường vui chơi mỗi độ xuân về.

Hò cấy thường diễn ra ngay trên đồng ruộng, có thể kéo dài từ sáng cho đến chiều tối. Các nhóm hò, có kẻ xướng người xô, vừa lao động, vừa trổ tài đối đáp. Xưa kia, mỗi vạn cấy thường tập trung từ 20 đến 30 người, đứng đầu là một anh "trùm vạn" - người làm trung gian giữa chủ ruộng và thợ cấy. Những thợ cấy hò giỏi, hò hay thường được mọi người trọng vọng, công xá bao giờ cũng được nhận phần cao hơn so với các người khác trong vạn.

Hò cấy được phân bố hầu như khắp địa bàn trong tỉnh, nhưng phổ biến nhất là ở miệt ruộng của huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Bình Đại.

Ở Thạnh Phú cũng thịnh hành hò chèo thuyền, Bình Đại có hò lờ, hò cúng chùa, hò bản đờn. Dọc theo sông Hàm Luông, ven vàm Tân Hương lại rất phổ biến hò mái đoản, hò mái trường, hò chèo ghe (chèo thuyền).

Trong dân gian, thuật ngữ hò rơi dùng để chỉ trường hợp hò lẻ một mình, chẳng có ai bắt, ai luận, ai gài, ai gỡ, dù có một hoặc nhiều người hò cũng vậy. Trong khi đó, hò kết lại có người bỏ, người bắt, người luận, người gài, người bẻ, tức là có đối có đáp.

Hò mép (hoặc hò bắt quàng) là loại hò ngẫu hứng, đòi hỏi nghệ nhân phải có trình độ nhạy cảm và có năng lực đối đáp ngay lúc biểu diễn trước cảnh và tình xung quanh.

Hò văn, hò thơ, hò truyện đòi hỏi người hò phải am hiểu chữ nghĩa, sử dụng thành thạo các thành ngữ, tục ngữ, nhất là những thành ngữ Hán Việt, phải thuộc nhiều thơ Nôm, thơ lục bát, nhất là các truyện thơ (Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, Phạm Công – Cúc Hoa), biết nhiều điển tích trong các truyện Tàu như Tam quốc, Tây du, Đông Chu liệt quốc, Thủy hử.

Hò quốc sự ra đời muộn màng hơn so với các loại hò trên, cùng lúc với các phong trào đấu tranh chống xâm lược, giải phóng đất nước.

Hò đối đáp vốn là một loại hình dân ca phổ biến khắp ba miền đất nước, có lề lối sinh hoạt nghệ thuật giống nhau, đồng thời ở mỗi vùng lại có những tục lệ riêng. Hò đối đáp Bến Tre trải qua 3 giai đoạn diễn xướng. Mở đầu là hò rao, hò mời, hò hỏi thăm. Lời hò ở giai đoạn này chủ yếu là để tìm hiểu đối phương, cho nên thường khiêm nhường, từ tốn, lịch sự. Giai đoạn hai - phần chính của cuộc hò – là lúc thi tài cao thấp, phân định thắng bại, cho nên sôi nổi, căng thẳng, hồi hộp, gay cấn, nhưng cũng là giai đoạn lý thú và hào hứng nhất. Giai đoạn thứ ba mang tính chất kết thúc với những lời hò giã từ, tiễn đưa, hò hẹn, tạm biệt, có khi là sự luyến tiếc, vương vấn, buồn thương, cảm phục...

Chú thích
(1) Những tài liệu trong phần Dân ca này chủ yếu dựa vào công trình nghiên cứu Dân ca Bến Tre của Lư Nhất Vũ và Lư Giang, Ty Văn Hoá - Thông tin Bến Tre, 1981 và một số bản tham luận khoa học đã được đăng trên báo chí của tỉnh.

Đã ban hành
Đền thờ Huỳnh Tấn PhátĐền thờ Huỳnh Tấn Phát
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Ông đi làm một thời gian và mở văn phòng kiến trúc tư đầu tiên ở Sài Gòn (1840). Ông đoạt giải thiết kế và xây dựng Hội chợ triển lãm Đông Dương (vườn ông Tượng, Tao Đàn, năm 1941). Với nhiệt huyết của một trí thức yêu nước, ông chuyển sang hoạt động chính trị, tham gia phát triển nhiều phong trào yêu nước (Chủ nhiệm báo Thanh niên, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở miền Bắc đặc biệt là phong trào Thanh niên tiền phong mà ông là Trưởng ban cổ động).

Ngày 05 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn năm 1945. Năm 1946, ông bị bắt tại nhà in số 160 đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng). Trong khám ông được mọi người bầu làm Trưởng ban đại diện “Liên đoàn tù nhân khám lớn Sài Gòn”, biến khám lớn Sài Gòn thành trường học văn hóa, chính trị đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng.

Năm 1949, sau khi ra tù ông về khu giải phóng và được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Ngày 06 tháng 6 năm 1969, tại Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ông làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, ông cùng với các đồng chí Võ Chí Công, Phùng Văn Cung được bầu là những người đứng đầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, ông chỉ đạo Ban trí vận mặt trận khu Sài Gòn - Gia Định vận động trí thức yêu nước công tác ở Sài Gòn ra chiến khu thành lập Liên minh các lực lượng phong trào dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam. Năm 1976, ông được Quốc hội khóa VI cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1981, Quốc hội khóa VIII cử ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đến năm 1982.

Tháng 6 năm 1982, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, ông còn giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam. Ông chỉ đạo và góp ý kiến các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu, Tây Ninh,… Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng nhất,...

Ông mất ngày 30 tháng 9 năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

Ông Huỳnh Tấn Phát là một trí thức có nhiều uy tín trong xã hội nhưng ông không quan tâm làm giàu mà giành trọn đời mình để lo cho dân, cho nước. Chính vì thế nên khi ông mất, dân làng Tân Hưng đã rước di ảnh ông về thờ tại đình Tân Hưng nhằm giáo dục các thế hệ con cháu ra sức học tập và làm việc như khi sống ông vẫn làm. Những hình ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của ông cũng được trưng bày trang trọng tại đây.

Đình Tân Hưng hiện tọa lạc tại ấp Tân Hưng, xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 trước khi được trùng tu đình gồm 3 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thiếp vàng. Trên nền ngôi đình cũ, đình Tân Hưng được trùng tu khang trang, rộng rãi hơn (khởi công ngày 14 tháng 3 năm 2003 hoàn thành 10 tháng 9 năm 2004) gồm 2 ngôi nhà chính: một ngôi nhà thờ Thành hoàng bổn cảnh, một ngôi nhà thờ Huỳnh Tấn Phát.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 - 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “Chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn Việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Năm 1963 - 1965, địch đem quân chiếm đóng đình để tiến hành khủng bố, đàn áp nhân dân. Trước sự đoàn kết, thống nhất đấu tranh của quần chúng nhân dân và sự tấn công của lực lượng du kích, địch rút chạy, ngôi đình được trả lại nhân dân nhưng chúng đã làm hư hại nhiều cơ sở vật chất của đình. Năm 1968, cùng với các nơi nổi dậy tấn công Mùa xuân năm 1968, tại địa phương, các vị trong Ban khánh tiết đình Tân Hưng đi dân công, cứu thương phục vụ những trận đánh lớn, nổi bật có Huỳnh Trung Tuyên, Huỳnh Văn Búp, Huỳnh Văn Phường, Nguyễn Văn Thiệt.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, đình là nơi bắn phá của địch vì nơi đây thường xuyên là nơi đi lại và hoạt động của cán bộ, Đảng viên xã Châu Hưng, là nơi gây dựng cơ sở và cất giấu tài liệu, vũ khí. Năm 1972, địch ném 02 quả bom gây thiệt hại nặng cho đình. Ngôi đình tồn tại đến ngày nay minh chứng về lòng nhân nghĩa, ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam.

Với ý nghĩa đó, đình Tân Hưng đã được UBND tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1698/QĐ-UB công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
Các loại cây trồngCác loại cây trồng
Trong vòng ba thế kỷ, kể từ khi những lưu dân người Việt đầu tiên đến định cư, đặt những nhát cuốc khai phá đầu tiên vùng đất hoang vu của phía nam Tổ quốc cho đến ngày hôm nay đã có những biến đổi kỳ diệu. Trong phạm vi tỉnh Bến Tre mà xét, nếu đem đối chiếu với những điều đã được miêu tả về thiên nhiên nơi đây cách nay vài ba thế kỷ trong các thư tịch cổ, thì rõ ràng là cảnh quan đã có những đổi thay rất to lớn
Image

 Trong vòng ba thế kỷ, kể từ khi những lưu dân người Việt đầu tiên đến định cư, đặt những nhát cuốc khai phá đầu tiên vùng đất hoang vu của phía nam Tổ quốc cho đến ngày hôm nay đã có những biến đổi kỳ diệu. Trong phạm vi tỉnh Bến Tre mà xét, nếu đem đối chiếu với những điều đã được miêu tả về thiên nhiên nơi đây cách nay vài ba thế kỷ trong các thư tịch cổ, thì rõ ràng là cảnh quan đã có những đổi thay rất to lớn. Sức lao động, trí tuệ của con người và khả năng thích nghi với môi trường mới đã biến rừng hoang, đầm lầy, vùng nê địa thành ruộng vườn trù phú, thành làng mạc, phố xá đông đúc, văn minh.

Những lưu dân đầu tiên đặt chân đến đây, dù bằng đường bộ hay đường thủy, trước hết họ phải nghĩ đến cái ăn, nghĩa là phải sản xuất ra lương thực để nuôi mình. Có thể lúc đầu, con người bắt buộc phải chú ý đến một vài thứ hoa màu ngắn ngày để giải quyết những nhu cầu trước mắt nhằm "lấy ngắn nuôi dài", như cây lúa nước – cây lương thực truyền thống, chủ lực của cư dân Việt Nam - vẫn được chú ý hàng đầu. Đất mới phương Nam cùng khí hậu thuận hoà với hai mùa mưa nắng đã trở thành mảnh đất lý tưởng cho sự tăng trưởng của loại cây lương thực chủ lực này.

Đã ban hành
Buổi đầu khai phá - xây dựngBuổi đầu khai phá - xây dựng
Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm".

Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm" (1). Trên đất Bến Tre, việc khai khẩn ruộng vườn của cư dân tại chỗ – người Khmer – chỉ tập trung chủ yếu trên các giồng đất cao như Sóc Sãi, giồng Ông Giang, giồng Nâu, ở cù lao Bảo, giồng Văn, giồng Võ, Đa Phước, An Thạnh, Ba Vát ở Cù Lao Minh.

Những vùng đất thấp khác hầu như đều là rừng rậm hoang vu, như tác giả Gia Định thành thông chí đã mô tả: “Phía Nam trấn (Định Tường) một dặm, trước kia là rừng hoang làm hang cho hùm beo ở" (2). Cho đến những năm cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, theo Chuyên khảo tỉnh Mỹ Tho, vùng cù lao An Hóa vẫn còn cọp và dọc theo sông lớn có nhiều khỉ (3). Nhưng cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ nói chung, kể từ thế kỷ XVII trở đi, bộ mặt vùng đất Bến Tre bắt đầu biến đổi mạnh khi có sự xuất hiện một lớp dân cư mới – lưu dân người Việt và lưu dân người Hoa.

Vùng đất Bến Tre được xác nhập vào lãnh thổ Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII, nhưng lưu dân người Việt đã đến đây ở từ trước đó khá lâu. Có thể coi đó là một đặc điểm chung ở nhiều vùng đất khác ở Nam bộ, Jules Sien đã nhận xét rất đúng rằng: “Trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó những tổ chức. Những nhóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở chung với người Cao Miên" (4).

Những lưu dân người Việt đến vùng Bến Tre trong những năm cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII hầu hết là những người từ các tỉnh miền Trung. Họ gồm nhiều thành phần khác nhau, nhưng đông đảo nhất vẫn là những nông dân nghèo khổ lại phải gánh chịu nạn chiến tranh phong kiến liên miên giữa hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong. Họ buộc phải rời bỏ quê hương đi tìm đất sống. Thành phần đông đảo thứ hai là những người trốn lính và lính trốn, những tù nhân bị lưu đày viễn xứ. Ngoài những thành phần đông đảo kể trên, còn có một số người có tiềm lực kinh tế, có kinh nghiệm sản xuất, những người có óc phiêu lưu mạo hiểm ở miền Thuận Quảng – những người mà Lê Quý Đôn gọi là "dân có vật lực" – theo lời kêu gọi của chúa Nguyễn, họ muốn thử thời vận, làm giàu, vào đây để mở rộng việc kinh doanh tạo nên sản nghiệp mới.

Trong những lưu dân người Việt từ các tỉnh miền Trung đến đất Bến Tre, có một số lớn đi thẳng từ quê hương của họ đến đây theo đường biển bằng phương tiện ghe bầu. Trong các thế kỷ XVII, XVIII, đường bộ từ miền Thuận Quảng vào đất Nam Kỳ còn rất khó khăn, nguy hiểm. Một số khác đã vào vùng Biên Hòa, Bến Nghé, Vũng Gù trước đó, nhưng vì chưa tìm được những điều kiện thuận lợi để bám trụ, nên phải tiếp tục đi tới và hội tụ về đất Bến Tre. Số người này có thể đã tới đây bằng cả hai cách, hoặc di chuyển theo đường bộ, hoặc theo đường thủy.

Cũng như các vùng đất khác trên đất Đồng Nai – Gia Định, những lưu dân người Việt đến Bến Tre theo cách thức: hoặc lẻ tẻ từng cá nhân, từng gia đình, hoặc họp lại thành nhóm gồm những người bà con thân thuộc hay làng xóm láng giềng, hoặc một số người đi trước tìm chỗ cư trú, làm ăn rồi quay về đưa gia đình, bà con thân thuộc, hàng xóm láng giềng vào tiếp. Nếu như các cuộc di chuyển bằng đường thủy có thể đi một mạch, thì những cuộc di chuyển bằng đường bộ thường diễn ra từng chặng.

{mospagebreak}Những người đến bằng đường biển đã theo cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông vào định cư trước tiên ở những vùng đất cao dọc theo các con sông lớn.

Ngoài các dải đất ven sông, những người mới đến cũng đã chọn các khu đất giồng để định cư và khai phá như Ba Vát, Thom, Giồng Luông, Đa Phước (ở cù lao Minh), Tiên Long, Tiên Thủy, An Hội, Mỹ Lồng, Cái Bông (ở cù lao Bảo), vì môi trường tự nhiên ở đây tương đối thuận lợi so với nơi khác, đất tốt, không bị lầy lội.

{mospagebreak}Cùng với lưu dân người Việt, vào cuối thể kỷ XVII, trên đất Bến Tre, ít nhất là cù lao An Hóa, còn có số lưu dân người Hoa thuộc nhóm Dương Ngạn Địch cư trú. Nhóm này cùng với nhóm Trần Thượng Xuyên (khoảng 3.000 người) là bộ phận quân nhà Minh ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, bất phục triều đình Mãn Thanh chạy sang Việt xin tỵ nạn, được chúa Nguyễn an sáp vào đất Đồng Nai - Gia định. Nhóm Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Biên Hòa, còn nhóm Dương Ngạn Địch thì đến định cư ở Mỹ Tho. Trong nhóm thứ hai này, chắc chắn đã có một số sang cư trú ở cù lao An Hóa, nhất là vùng đối diện với Mỹ Tho, ở các ấp ven sông Ba Lai thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành ngày nay. Họ không lập xóm ấp riêng, mà ở chung với người Việt, về sau trở thành người Minh Hương, rồi trải qua nhiều đời thành dân bản địa (trích Lịch sử xã Phước Thạnh).

Với nhiều đợt chuyển cư liên tục diễn ra trong suốt thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ XVIII, vùng Bến Tre đã có đông người đến ở. Chính vì vậy, năm 1759, chính quyền họ Nguyễn (chúa Nguyễn) bắt đầu ban bố lệnh lập làng ở đây. Đến năm 1779, khi Nguyễn Ánh chia lại địa giới hành chính và tổ chức lại việc cai trị phủ Gia Định – tức Nam Kỳ nói chung – vùng Bến Tre được đặt thành một tổng – tổng Tân An thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Tuy gọi là tổng nhưng diện tích của nó rất rộng, gồm cả cù lao Bảo và cù lao Minh.

Đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các thôn xã đã phát triển rộng khắp từ vùng ven biển đến phía thượng nguồn của hai cù lao.

Đến vùng đất mới, những lưu dân phải bắt tay vào việc mưu tìm cách sống. Nhưng ngoài sức lao động của đôi bàn tay, họ thiếu thốn mọi thứ: phương tiện, vốn liếng, giống má, trâu bò... Cho nên ban đầu, họ chỉ có khả năng khai phá, trồng trọt trên những diện tích nhỏ bé, hoặc đi khai thác những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có, như vào rừng lấy gỗ, mây, dầu rái, mật và sáp ong, than củi, săn bắt thú để lấy thịt, sừng, da, đánh bắt tôm cá ở sông rạch... nhằm giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Tất nhiên cũng không loại trừ việc cày thuê cuốc mướn cho những gia đình khá giả. Nhưng dù sao ở nơi đất mới – như Trịnh Hoài Đức nhận xét: “Gia Định đất rộng, thực vật nhiều, không lo đói rét" (5) – cuộc sống của họ chắc chắn có nhiều phần dễ dàng hơn nơi đất hẹp người đông, người khôn của khó ở quê hương cũ. Việc khai phá trong buổi đầu này thường diễn ra dưới hình thức tập thể, từng nhóm, từng cụm, có thể gồm những gia đình có họ hàng thân thuộc, hoặc đồng hương đồng xứ, hoặc cùng chung tín ngưỡng, cùng trong họ đạo. Vùng đất mới lúc này còn rất hoang vu, xa lạ, đầy thú dữ, rắn rết, đến nỗi "con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh" như người ta thường nhắc, cho nên chỉ có dựa vào nhau, cố kết lại với nhau, thì mới tạo được một sức mạnh để đối phó với những nguy hiểm, những biến cố bất kỳ có thể xảy ra.

Trong khi đó, “những dân có vật lực” bao gồm địa chủ, phú nông, nhà nông, những người có đầu óc kinh doanh, muốn làm ăn lớn, số này chiếm tỷ lệ không lớn, nhưng họ sẵn vốn liếng, phương tiện, có kinh nghiệm tổ chức, lại được chính quyền chúa Nguyễn khuyến khích, đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, tập hợp lại thành nhóm, thành đoàn đưa vào vùng đất mới để khai hoang, sản xuất nông nghiệp.

Với bàn tay, khối óc và sự lao động cần mẫn, sáng tạo của những lớp lưu dân, bản đồ khai phá trên đất Bến Tre được mở rộng dần trong các thế kỷ XVII, XVIII. Vùng Ba Tri là một trong số nơi được khai khẩn sớm nhất, vì nơi này là điểm dừng chân đầu tiên của các lưu dân từ miền Trung đi vào theo đường biển. Ba Tri có nhiều giồng đất cao hình cánh cung, xen kẽ những cánh đồng trũng. Ở chân giồng, việc canh tác lúa vào mùa mưa khá thuận lợi, còn trên mặt đất giồng thì có thể trồng các thứ hoa màu như sắn, khoai, đậu, bắp, dưa, bí và một số loại cây cần thiết cho các ngành thủ công nghiệp như bông, vải, gai, dâu tằm... Đến đầu thế kỷ XVIII, các làng, các trại vùng này được thiết lập. Những nơi đủ dân thì lập làng, ấp, nơi nào ít dân thì họp thành trại. Một số tên trại còn lưu truyền đến ngày nay như Ba Tri cá trại, Cái Da trại... Trong số những lưu dân người Việt đến khai phá đất đai đầu tiên trong vùng, có cả nhóm tín đồ Thiên chúa giáo. Họ đã đến định cư trên giồng Cái Bông và về sau càng đông thêm. Năm 1730, họ đạo này lập ra nhà thờ Cái Bông.

Một vùng khác được khai phá cùng thời với Ba Tri là khu vực Cái Mơn, Cái Nhum nằm ở ven sông Hàm Luông, dọc theo các con rạch Cái Mơn, Cái Nhum. Số lưu dân này phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Năm 1731, một họ đạo khác ra đời ở cù lao Minh, đó là họ đạo Cái Nhum.

Ngoài ra, trên cù lao An Hóa, vùng đối diện với Mỹ Tho có thể đã được khai phá từ khi nhóm người Hoa của Dương Ngạn Địch đến định cư trong vùng và lập nên phố chợ Mỹ Tho từ năm 1679.

Trong thế kỷ XVIII, vùng được khai phá mạnh là vùng Ba Vát (sách Gia Định thành thông chí gọi là Ba Việt) trên cù lao Minh trải rộng từ Ba Vát đến Mỏ Cày, An Định và một số giồng dọc sông Cổ Chiên như giồng Phú Hựu, giồng Nâu, giồng Buồm, giồng Ao. Vùng Ba Vát đã là vùng trù phú vào bậc nhất của Bến Tre lúc ấy. Đến năm 1777, khi xảy ra cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh thì vùng này mới bị suy tàn dần.

Trên cù lao Minh vùng dọc theo sông Hàm Luông như Vĩnh Thành (Cái Mơn) thuộc huyện Chợ Lách cũng được khai phá trong thời kỳ này. Ở đây, từ rất sớm đã có nhiều vườn cây ăn trái khá sầm uất.

Được khai phá vào thế kỷ XVIII, còn có vùng ven rạch Sóc Sải, ven rạch Mỹ Lung (sông Bến Tre) trên cù lao Bảo. Sang đầu thế kỷ XIX, nơi đây đã mọc lên những khu vườn cây ăn trái khá sung túc. Hồi này, vùng Xẻo Sâu, Mỹ Lồng đã nổi tiếng là vùng trồng nhiều cau nhất ở vùng Nam Kỳ Lục tỉnh, được nhắc đến trong ca dao.

{mospagebreak}Trong thế kỷ XVIII, việc khai phá trên cù lao An Hóa lại được mở rộng tới các khu đất ven sông Mỹ Tho và sông Ba Lai, cũng như vùng ven rạch Bình Đại. Như vậy là trong thế kỷ này, vùng đất mà ngày nay gọi là Bến Tre diện tích được khai phá đã khá rộng.

Bước sang thế kỷ XIX, công cuộc khai hoang, sản xuất ở Bến Tre càng được mở rộng hơn, vì đi đôi với việc tự khai phá của nhân dân, chính quyền nhà Nguyễn cũng đứng ra tổ chức việc khai hoang, trồng trọt dưới hình thức đồn điền hoặc khai hoang, lập ấp.

Thực ra, từ cuối thế kỷ XVIII (1790), Nguyễn Ánh đã cho thi hành chính sách dùng một bộ phận binh lính và chiêu mộ dân nghèo, tiến hành khai hoang lập đồn điền, nhưng vì chiến tranh còn tiếp diễn nên chủ trương này chưa được mở rộng. Đến khi dành được chính quyền trên toàn quốc (1802), Nguyễn Ánh cho đẩy mạnh việc thành lập các đồn điền – lúc đó gọi là “trại đồn điền” – trên khắp bốn phủ thuộc Gia Định thành (tức toàn Nam Kỳ): Tân Bình, Phước Long, Kiến An, Định Viễn. Sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn, số trại đồn điền đã được lập ra đều khắp. Năm 1814, theo thống kê riêng, số dân trong các trại đồn điền – chưa kể số binh lính - đã lên đến 9.876 người. Năm 1822, con số này là 9.703 người. Riêng tại phủ Định Viễn (trong đó có huyện Tân An, tức Bến Tre ngày nay) có tất cả 14 hiệu, gồm 142 trại đồn điền với 6.174 người. Rất có thể một phần trong số 142 trại này đã được lập nên trên vùng đất Bến Tre.

Năm 1853, triều đình nhà Nguyễn lại giao cho Nguyễn Tri Phương nhiệm vụ mộ dân lập đồn điền ở sáu tỉnh Nam Kỳ dưới hình thức cơ, đội. Một năm sau (1854), theo báo cáo của Nguyễn Tri Phương, có 21 cơ đã lập xong và 4 cơ đang hình thành (6). Riêng tỉnh Vĩnh Long, có 7 cơ. Đất Bến Tre lúc bấy giờ là phủ Hoằng Trị thuộc tỉnh Vĩnh Long gồm 4 huyện Bảo Hựu, Bảo An, (cù lao Bảo) Tân Minh, Duy Minh (cù lao Minh). Ở các huyện này, số dân và số diện tích khai phá được như sau (7) :

Bảo Hựu

346 người, khai phá được

1.478 mẫu

Bảo An

26 người, "

122 mẫu

Tân Minh

371 người "

1.390 mẫu

Duy Minh

110 người, "

651 mẫu

 

 

Như vậy, thời gian này đã có từ 2 đến 3 trong số 7 cơ đồn điền của tỉnh Vĩnh Long được lập ra trên đất Bến Tre, với 853 người dân và diện tích khai phá được là 3.640 mẫu.

{mospagebreak}Điều đáng tiếc là không có tài liệu nào ghi rõ địa điểm của các cơ được lập ra trên đất Bến Tre. Chỉ biết rằng, tại Hương Điểm (huyện Giồng Trôm nay) còn một số địa danh như Đội Ba, Đội Năm, Đội Bảy, các nơi này có thể là địa bàn của các đội đồn điền trước kia. (8)

Bên trên là việc lập đồn điền. Còn việc mộ dân khai hoang lập ấp thì triều đình nhà Nguyễn vừa giao trách nhiệm cho quan lại địa phương, vừa khuyến khích những người có khả năng, có vốn liếng, phương tiện thực hiện. Chủ trương này được triển khai khá mạnh trên toàn Nam Kỳ lục tỉnh, trong đó có tỉnh Vĩnh Long bao gồm Bến Tre. Trong số 124 ấp được lập ở 6 tỉnh Nam Kỳ năm 1854 có 60 ấp nằm ở tỉnh Vĩnh Long. Các ấp này thường được thành lập ở những nơi mà việc khai hoang không mấy khó khăn và không nằm quá xa các làng mạc có trước. Vì thế, tuy ta không biết được trong số 60 ấp đó, có bao nhiêu ấp nằm trên đất Bến Tre và ở những vị trí cụ thể nào, nhưng có thể tin chắc là có nhiều ấp được lập ra ở đây.

Đến năm 1856, quan tỉnh Vĩnh Long lại mộ được 690 người, lập thêm 41 ấp nữa, nhưng tài liệu này cũng không nói rõ số ấp được lập trên hai cù lao Bảo và Minh là bao nhiêu. Chính vì việc khai phá được mở rộng dẫn đến việc hình thành thêm nhiều thôn ấp, cho nên vào năm 1808, tổng Tân An (tức Bến Tre ngày nay) được nâng lên thành huyện, gồm hai tổng: tổng An Bảo nằm trên cù lao Bảo có 63 thôn và tổng Tân Minh nằm trên cù lao Minh có 72 thôn. Đến đời Minh Mạng (năm 1823), huyện Tân An lại được nâng lên thành phủ, mang tên phủ Hoằng An. Các tổng Tân Minh, An Bảo được nâng lên thành huyện Tân Minh và huyện Bảo An.

Sự mở rộng công cuộc khai phá luôn luôn gắn liền với việc dân số gia tăng, dân số càng đông tất yếu dẫn đến qui mô khai phá càng được mở rộng. Theo những số liệu thống kê vào đầu thời Pháp thuộc, thì vào năm 1859, Bến Tre đã có khoảng 110.000 dân (9). Đến năm 1869, khi vùng đất Bến Tre đã lọt vào tay quân Pháp, thì dân số vùng này đã lên tới 156.704 người (9).

Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, Bến Tre đã là một trong những nơi được khai phá nhiều nhất trong sáu tỉnh Nam Kỳ. Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ XIX, trước khi Bến Tre lọt vào tay quân Pháp, diện tích đất trồng trọt trên hai cù lao Bảo và Minh đã lên đến 88.522 mẫu, tức khoảng 44.200 ha.

Tư liệu lịch sử cho biết, trên những đất đai đã khai phá được, người nông dân - lưu dân Bến Tre đã trồng nhiều loại cây khác nhau tùy theo điều kiện đất đai mỗi nơi, trong đó cây lúa là loại cây trồng chính. Thoạt tiên, họ làm ruộng lúa ở chân các giồng nơi cư trú, rồi về sau theo đà gia tăng dân số, họ mở rộng diện tích canh tác lúa đến cả những cánh đồng thấp trũng, sình lầy. Ruộng ở nơi cao như ven các giồng thường được gọi là "sơn điền" (ruộng núi), còn ruộng ở nơi trũng thấp, ngập nước vào mùa mưa thì được gọi là "thảo điền" (ruộng cỏ). Trên hai loại chủ yếu đó người nông dân - lưu dân Bến Tre, cũng giống như lưu dân ở nhiều vùng khác thuộc Đồng Nai – Gia Định, đã áp dụng những kỹ thuật canh tác khác nhau.

Cau Mỹ Lồng khá nổi tiếng, được Trịnh Hoài Đức nhắc đến: “Có những vườn cau đứng rậm như rừng, quả lớn lại sai" (10). Trong khi đó, vùng Cái Mơn lại tập trung nhiều vườn cây ăn quả. Các nhà truyền giáo đã đưa vào đây nhiều giống cây ăn trái mới lạ, gốc ở một số nước Đông Nam Á như chà là, dừa lùn, sabôchê, chôm chôm...

Cùng với việc khai phá đất đai lập thành ruộng vườn, lưu dân ở Bến Tre cũng phát triển nhiều nghề thủ công như đan lát, dệt chiếu, đóng ghe thuyền, đan lưới, làm muối nhằm đáp ứng một số nhu cầu thiết yếu trong đời sống. Trong số các ngành nghề thủ công ở đây, ngành dệt vải, dệt lụa, dệt chiếu, chế biến thực phẩm phát triển nhất. Từ đầu thế kỷ XIX, Ba Tri đã là nơi nổi tiếng về nghề dệt lụa. Một số địa phương khác như Mỹ Lồng, Sơn Đốc, Châu Bình thì nổi danh với nghề chế biến thực phẩm: "Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, mắm còng Châu Bình...".

Sự phát triển mạnh mẽ việc khai hoang sản xuất nông nghiệp và một số ngành nghề thủ công đã đưa tới sự ra đời một mạng lưới chợ búa khá sầm uất làm nơi trao đổi lương thực, thực phẩm, các mặt hàng thủ công, hàng tiêu dùng giữa các cư dân trong vùng. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, đến giữa thế kỷ XIX, ở Bến Tre đã có 10 chợ lớn, khá sầm uất, phân bố như sau:

- Huyện Tân Minh có chợ Ba Vát.
- Huyện Duy Minh có chợ Hội An.
- Huyện Bảo Hựu có các chợ Sóc Sãi, An Đức, Mỹ Lồng, Lương Điền.
- Huyện Bảo An có các chợ Bình Hòa, Hưng Thạnh, Hưng Nhượng, An Bình Đông, Vĩnh Đức(11).

Vậy là từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, trong khoảng hai thế kỷ rưỡi - một thời gian lịch sử không dài lắm - mà bộ mặt vùng đất Bến Tre đã thay đổi hẳn: từ một vùng đất hoang vu, xứ sở của rừng rậm, sình lầy, thú dữ, rắn rết, cá sấu... đã trở thành một vùng ruộng vườn tươi tốt. Đó là kết quả của bao mồ hôi, công sức, cả máu và nước mắt của những lưu dân buổi đầu và các thế hệ con cháu tiếp sau của họ. Cho nên chính họ mới là người chủ thực sự đã kiến tạo nên vùng đất trù phú này.

{mospagebreak}Tuy nhiên, một điều nghịch lý đã xảy ra là không phải những người khai phá được tận hưởng toàn bộ thành quả lao động ấy. Ngay những mảnh đất nhỏ nhoi mà họ khai phá được bằng sức đôi bàn tay của mình cũng không phải vĩnh viễn thuộc về họ. Bởi vì như trên đã nói, để mở rộng nhanh chóng công cuộc khẩn hoang ở vùng đất mới, nhằm tạo ra tiềm lực kinh tế vững mạnh đủ sức đối chọi với họ Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã khuyến khích những người "dân có vật lực" miền Thuận Quảng vào Nam mở mang công việc làm ăn. Những người "dân có vật lực" này sẵn vốn liếng và kinh nghiệm tổ chức, đã đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, lập thành lực lượng lao động lớn.

Không những thế, theo Lê Quý Đôn, họ còn "thu cả con trai, con gái người Mọi (Thượng) ở các đầu nguồn, đem về làm nô tì, người đen tóc quăn là người Mọi thực giá tiền 20 quan, hơi trắng giá chỉ 10 quan, cho tự lấy nhau, sinh đẻ nuôi nấng thành người cày ruộng, làm nghề nghiệp" (12). Nhờ lực lượng đông đảo ấy, những người “dân có vật lực" đã nhanh chóng khai phá được những diện tích đất đai rộng lớn, trở thành những điền chủ nhiều thế lực. Trong sách Phủ biên tạp lục , Lê Quý Đôn cho biết: "Người giàu ở các địa phương (chỉ vùng Đồng Nai - Gia Định - BS) hoặc 40, 50 nhà, hoặc 20, 30 nhà, mỗi nhà điền nô hoặc đến 50, 60 người, trâu bò hoặc đến 300, 400 con, cày bừa, cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 11, tháng 12, thường giã thành gạo, bán lầy tiền để ăn tết chạp... Bình thường chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc, lụa tĩnh, trừu đoạn, áo quần tốt đẹp” (13). Số điền chủ giàu có này trở thành chỗ dựa xã hội của chế độ phong kiến họ Nguyễn. Họ không chỉ giữ vai trò quan trọng về kinh tế, mà còn nắm giữ cả quyền lực chính trị ở địa phương. Chính sách của nhà Nguyễn lại tạo thêm những thuận lợi cho tầng lớp điền chủ nói trên cùng với bọn chức việc làng, xã, tổng, huyện kiêm tính ruộng đất công và ruộng đất của nông dân nghèo, mở rộng điền sản, phát triển thêm một bước chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam Kỳ.

Thiệu Trị khi lên làm vua, đã ban hành chỉ dụ cho phép số phú hào mộ dân khẩn đất và được quyền ưu tiên chiếm giữ những ruộng đất tốt nhất, lại còn ban thưởng tiền bạc, chức tước: "Ai mộ được 5 xuất đinh, khẩn được 50 mẫu trở lên được thưởng 20 quan, mộ được 10 suất đinh, khẩn được 100 mẫu, được thưởng 40 quan... Ngoài ra còn được thưởng hàm tòng cửu phẩm và cho làm lý trưởng. Tùy vào số ruộng và số đinh, việc tặng thưởng có thể nâng lên đến hàm chánh bát phẩm và bổ thụ chánh tổng" (14).

Được sự khuyến khích nâng đỡ của chính quyền họ Nguyễn, tầng lớp điền chủ ở Đồng Nai – Gia Định nói chung, Bến Tre nói riêng, tha hồ cấu kết với bọn quan lại địa phương, đã dùng mọi thủ đoạn để cướp đoạt ruộng vườn của những người nông dân nghèo khổ, cô thế. Nhận xét của Trương Đăng Quế khi ông được Minh Mạng biệt phái vào Nam tiến hành việc đo đạc ruộng đất để lập địa bạ (năm 1836) đã nói lên mức độ nghiêm trọng của tình hình này: "Nam Kỳ chứa chất tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm, người nghèo không đất cắm dùi. Có kẻ ở xã này chiếm ruộng đất ở xã khác, mà người xã sở tại lại phải tá ngụ để cày cấy".

Thủ đoạn kiêm tính của điền chủ và cường hào ở đây không chỉ đụng tới những mảnh đất nhỏ bé của nông dân nghèo, mà còn bao chiếm cả ruộng công làng xã - loại ruộng đất dùng để tạm cấp cho dân làng theo chính sách "quân điền" dù rằng ở Đồng Nai – Gia Định kể cả Bến Tre, số lượng đất này chiếm tỉ lệ ít ỏi. Báo cáo của tỉnh thành Gia Định gửi về triều năm Minh Mạng thứ 21 (1840) ghi rõ: "Trong hạt không có ruộng công, các nhà giàu bao chiếm ruộng đất từ hàng trăm năm, hàng ngàn mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy" (15).

Ở hai huyện Bảo An và Tân Minh (tức cù lao Bảo và cù lao Minh), vào những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, đã có 21 điền chủ có số ruộng đất trên 100 mẫu, trong khi đó số có từ 30 mẫu trở lên có 705 người.

Còn về phía người nông dân nghèo, thì ngoài việc bị bọn điền chủ cướp đoạt ruộng đất, sau đó với thân phận tá điền (16), họ cày thuê cuốc mướn để kiếm sống, lại còn bị Nhà nước phong kiến bòn rút thông qua thuế khóa hà khắc. Chính quyền phong kiến đặt ra hàng loạt thứ thuế khác nhau: thuế ruộng, thuế đinh, thuế tàu thuyền, thuế sản vật... Chỉ riêng thuế sản vật, người dân Đồng Nai - Gia Định trong đó có Bến Tre, thường phải nộp từ thuế vườn dừa, vườn cau đến thuế các loại lâm sản khai thác được như gỗ, sáp ong, trầm hương... Riêng khoản đóng góp này đã khá nặng như Lê Quý Đôn nhận xét: “Hết thảy các sản vật đều lấy ở xã, thôn, phường, khi thì nộp thuế, khi thì trưng mua. Những phiền phí về sự đốc thúc, lao động, vận tải làm cho dân địa phương không thể nào kham nổi" (17). Thêm vào đó, người nông dân còn bị bọn quan lại các cấp nhũng nhiễu đủ cách, nào là phụ thu lạm bổ, nào là đòi hối lộ hoặc bắt phục dịch việc riêng. Ngoài thuế khóa hà khắc, chính quyền phong kiến họ Nguyễn đôi khi còn cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của dân – trước hết là của nông dân nghèo, những người không chút thế lực - để ban cấp cho những kẻ có công trạng trong việc khôi phục và củng cố quyền thống trị của họ.

Chính sách áp bức, bóc lột của chính quyền phong kiến và tầng lớp điền chủ đã làm cho cuộc sống của người nông dân lao động ở Đồng Nai – Gia Định, trong đó có Bến Tre, nhanh chóng bị bần cùng hóa, bị phá sản, khiến ở một nơi nổi tiếng màu mỡ và trù phú, số "cùng dân" lại ngày càng tăng lên. Tình hình nghiêm trọng đến nỗi năm Gia Long thứ 18 (1819), đám quan lại ở Gia Định đã phải đề nghị lên triều đình khi lập "Sổ cùng dân" (tức là sổ thống kê số dân nghèo khổ nhất), không nên theo lệ "thập đinh nhất cùng" – tức là tính bình quân cứ 10 người dân có một người cùng khổ – mà phải cho kê khai cụ thể thì mới nắm được số liệu chính xác. Kết quả là trong vòng 1 năm trên toàn vùng Đồng Nai – Gia Định (gồm cả Bến Tre) đã bổ sung thêm được 16.155 người. Nếu so sánh với con số "cùng dân" này với tổng số dân đinh ở Gia Định vào thời điểm đó (khoảng 80.000 người) ta sẽ thấy rõ tình trạng phân hóa giai cấp ở đây diễn ra nghiêm trọng đến mức nào.

{mospagebreak}Bị phá sản, phải lâm vào cảnh bần cùng, một bộ phận nông dân nghèo khó lại phải bỏ làng, bỏ quê một lần nữa để đi tìm con đường sống ở một địa phương khác, có khi là để trốn nợ. Thế là tình trạng nông dân "tái lưu tán" lại diễn ra, và mỗi ngày một trầm trọng đến mức năm 1789, sau khi lấy lại Gia Định lần cuối, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cho các nơi chiêu dụ dân lưu tán trở về đất cũ làm ăn.

Như vậy, mâu thuẫn giữa một bên là tập đoàn thống trị phong kiến cùng bọn điền chủ và một bên là nông dân nghèo trở thành mâu thuẫn cơ bản gay gắt nhất của xã hội vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung, đất Bến Tre nói riêng, nó chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là bùng nổ. Và cơ hội đó đã đến với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn.

Mùa xuân năm 1776, sau 5 năm đánh bại phong kiến họ Nguyễn ở vùng Thuận Quảng, nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục kéo quân vào tận Gia Định, thừa thắng đánh chiếm luôn cả 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Lần đầu tiên, lá cờ chiến thắng của những người nông dân khởi nghĩa cắm trên đất Gia Định. Cuộc tiến quân thắng lợi của nghĩa quân Tây Sơn vào đất Gia Định lần này chắc chắn không thể thiếu được một yếu tố rất quan trọng là sự ủng hộ và hưởng ứng nồng nhiệt của người nông nghèo Gia Định, trong đó có người nông dân Bến Tre, những người đã từ lâu nung nấu niềm bất mãn đối với chính quyền phong kiến họ Nguyễn.

Tiếp sau lần tiến quân đầu tiên năm 1776, nghĩa quân Tây Sơn còn liên tiếp 4 lần tiến quân vào Gia Định (tính đến năm 1784), và lần nào cũng được nông dân ở đây hưởng ứng và tích cực giúp đỡ hoặc trực tiếp tham gia.

Sự hưởng ứng và ủng hộ của nông dân Gia Định, đối với nghĩa quân Tây Sơn được thể hiện rõ nét nhất trong trận tiêu diệt quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, năm 1785. Trong trận này, các xã Tân Lợi, Phú Long, Phú Túc, Phú Đức nằm ven bờ nam sông Tiền (nay thuộc huyện Châu Thành) đã được nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ chọn làm một trong những địa bàn ém quân cho đòn đánh vu hồi hiểm hóc của trận quyết chiến chiến lược, nhận chìm toàn bộ chiến thuyền với gần 4 vạn quân Xiêm và hàng ngàn quân của Nguyễn Ánh. Ngoài ra, nhân dân vùng ven sông Ba Lai còn ủng hộ, giúp đỡ quân của Trương Văn Đa chống quân Xiêm và quân Nguyễn có hiệu quả.

Chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn, trong đó có sự đóng góp của người dân Bến Tre, có ý nghĩa hết sức to lớn, đến nỗi chính sử của nhà Nguyễn cũng phải thừa nhận rằng sau trận đánh này "người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp". Cùng với nhân dân Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, nhân dân Bến Tre đã góp phần vinh dự của mình trong chiến thắng lịch sử này, làm thất bại hoàn toàn âm mưu xâm lược nham hiểm của phong kiến Xiêm núp dưới chiêu bài giúp Nguyễn Ánh.

Ngoài việc hưởng ứng và giúp đỡ nghĩa quân Tây Sơn, nông dân Bến Tre cũng như nông dân toàn vùng Đồng Nai – Gia Định, còn bộc lộ sự bất mãn của mình đối với chính quyền họ Nguyễn qua việc tham gia tích cực vào cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi vào năm 1833. Bất bình về thái độ đối xử của triều đình nhà Nguyễn mà tiêu biểu là Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt cùng tay chân bộ hạ của họ Lê sau khi ông này qua đời, Lê Văn Khôi – con nuôi của Lê Văn Duyệt - đã đứng ra tập hợp những người bất mãn mà phần lớn là binh lính trong các đơn vị quân đội gọi là "hồi lương" và "bắc thuận" nổi dậy chiếm thành Phiên An, chống lại triều đình. Như vậy, cuộc nổi dậy này bắt nguồn từ mâu thuẫn nội bộ của tập đoàn phong kiến, nhưng vì nó chĩa mũi nhọn vào chính quyền phong kiến nhà Nguyễn cho nên lập tức nó được sự hưởng ứng rộng rãi và nhiệt tình của đa số nông dân nghèo vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung và Bến Tre nói riêng, những người mà từ lâu ôm ấp trong lòng khát vọng mong muốn có sự đổi thay xã hội để cuộc sống được dễ thở hơn. Tình hình đó khiến cho chỉ trong vòng 1 tháng, lực lượng nổi dậy do Lê Văn Khôi cầm đầu đã làm chủ được cả sáu tỉnh Nam Kỳ, làm lung lay trong một thời gian các cơ đồ thống trị vốn đã mục nát của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn.

Sự hưởng ứng mạnh mẽ và tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nghĩa quân Tây Sơn chống quân xâm lược Xiêm và bè lũ bán nước Nguyễn Ánh và cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi chống lại triều đình nhà Nguyễn đã nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Bến Tre, mà trước hết là nông dân. Tinh thần chống áp bức bóc lột, chống ngoại xâm bảo vệ quyền sống, bảo vệ quê hương đất nước diễn ra khá mạnh mẽ ngay trong quá trình chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khăn khai phá đất đai, sản xuất để tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới.

Chú thích:

(1) Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 243.
(2) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản chữ Hán, tờ 31b.
(3) Monographie de la province de Mỹ Tho, Sđd.
(4) J.Sien, Géographie universele, Dẫn theo Ngọc Dương, Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, S, 1960, tr.45.
(5) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.4
(6) QSQTN, Đại nam thực lục, tập 28, Nxb Khoa học, H., tr.47
(7) Lê Thọ Xuân, Xin cung hiến một ít tài liệu về cụ Nguyễn Trung Trực, tập san Sử địa, số 12 (1968), tr. 58
(8) Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr. 35
(9) Renseidnements sur l’organisation de la province de Vĩnh Long d’après Les cahiers des villages et les documents trouvés dans les archives, 1867, Tlđd.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập hạ, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.78
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tr. 134-140
(12) Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 135
(13) Lê Quý Đôn, Sđd, tr.345
(14) QSQTN, Đại Nam thực lục, Sđd, tập 23, tr. 288
(15) Mức tô mà tá điền phải đóng cho điền chủ thường là từ 60-70% sản lượng thu hoạch
(16) Lê Quý Đôn, Sđd, tr 216-217
(17) QSQTN, Minh Mệnh chính yếu, tập 3, Sđd, tr 90 

Đã ban hành
Cát bùn và diễn biến các dòng sôngCát bùn và diễn biến các dòng sông
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.

Kích thước các con sông và sự diễn biến lòng sông

Xem xét kích thước con sông người ta có thể xác định điều kiện ổn định động lực của nó, có thể giải thích các nguyên nhân phá vỡ cân bằng động lực, có thể dự đoán sự phát triển tương lai của dòng sông.

Các sông tỉnh Bến Tre, nhìn chung phân bố theo hình nan quạt và tương đối phẳng, có độ rộng tăng dần và độ sâu giảm dần về phía biển và có hiện tượng bồi lắng tăng dần từ nội địa ra biển.

Diễn biến – xâm thực các vùng cửa sông

Sự diễn biến lòng sông diễn ra khá phức tạp. Tình trạng xói lở bờ cũ, hình thành bờ mới, tách ra, nhập vào của các cồn bãi trên sông diễn ra thường xuyên, liên tục. Qua khảo sát thực tế năm 1996, vùng cửa sông Cửa Đại có độ sâu thay đổi từ 5 – 9 m. Đáy sông thuộc phía Bến Tre thường là nông, độ sâu trung bình từ 5 – 6 m; trong khi phí Tiền Giang, độ sâu từ 8 – 9 m. Một dải bồi tụ giữa sông nối tiếp cồn Bà Nở kéo dài tới 4 km và lệch về phía Bến Tre, làm lệch dòng chảy và gây xâm thực bờ sông phía Bến Đình. Đoạn từ Bình Thới đến Thừa Mỹ bị xâm thực mạnh. Bến Đình (1,75 km), tây bắc rạch Bà Khoai (0,5 km), tây bắc rạch Thừa Mỹ (1,5 km), vách xâm thực cao trung bình từ 1 – 1,5 m. Về phía biển, quá trình bồi tụ diễn ra rất mạnh. Một dải bồi tụ kéo dài từ rạch Thừa Mỹ đến cồn Tàu.

Cửa Hàm Luông có đáy sông nông hơn cửa Đại, trung bình từ 6 – 7 m, theo kiểu lòng máng cong đều, rãnh sâu lệch về phía bờ nam (8 – 10 m). Từ giồng Gò Chùa đến cửa rạch Đùng (cồn Hố) dài 6 – 7 km, bị xâm thực mạnh tại các điểm Bà Hiền (1,8 km), khém Bắc Kỳ (0,5 km), tây rạch Đùng (1,75 km). Các vị trí còn lại là bờ bồi tụ.

Cửa Cổ Chiên có địa hình đáy sông sâu 7 – 8 m. Nhìn chung phần giữa sông mặt đáy khá bằng phẳng, bờ sông bị xâm thực mạnh ở khu vực từ cửa Cái Bai đến Eo Lói (2,25 km), nam rạch Eo Lói (0,7 km), đông rạch Khém Thuyền (0,3 km), nam rạch Khâu Băng (0,7 km). Một cồn cát tích tụ kéo dài từ cù lao Long Hòa (Trà Vinh) về phía đông nam tới 5 km.

Cửa Ba Lai có trắc diện hình chữ U hơi lõm, độ sâu phổ biến từ 5 – 7 m. Khu vực cửa Ba Lai đang trong quá trình bồi tụ, mạnh nhất là bờ bên phải, từ cửa ấp Thạnh Phước đến Bảo Thuận (3 km) và khu vực từ rạch Vũng Luông đến xóm Trên (1 km). Địa hình các dãy tích tụ này phân bổ ở độ sâu trung bình 6 m khi triều cường và phần lớn lộ ra khi triều kém, nước ròng, tạo thành những bãi cát ngầm rộng tới 500 m. Vùng này hiện là các sân nghêu lớn của địa phương. Sự xâm thực chỉ xuất hiện trên đoạn bờ trái dài khoảng 500 – 800 m, bắt đầu từ chỗ rạch Thị Diễm đến cửa rạch Vũng Luông. Tại đây, đáy sông có lạch sâu từ 12 – 14 m.

Nhìn chung địa hình đáy sông vùng cửa sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Phiên tương đối thuận lợi cho việc xây dựng cảng cá tại Bình Thắng (huyện Bình Đại), An Thủy (huyện Ba Tri), An Nhơn (huyện Thạnh Phú). Ở các cửa sông của Bến Tre, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế, đặc biệt là khu vực sông cửa Ba Lai và cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực các cửa sông diễn ra với qui mô nhỏ, liên quan chủ yếu đến hoạt động thủy triều, sóng và do tích tụ ở giữa sông, từ đó làm lệch dòng chảy.

Bồi tụ xâm thực ven biển

Biến động ven biển mạnh mẽ với quá trình bồi tụ chiếm ưu thế. Tài liệu qua ảnh chụp từ vệ tinh nghiên cứu trong 21 năm (1968 – 1989) cho thấy tổng diện tích bồi tụ là 61,170 km2 (trong đó huyện Bình Đại chiếm 19,807 km2, Ba Tri chiếm 16,989 km2, Thạnh Phú chiếm 24,373 km2). Như vậy trong 21 năm, tỉnh Bến Tre lấn ra biển 68,9 km2, tốc độ bình quân mỗi năm là 2,33 km2.

Đất bồi tụ hình thành dải hẹp ở phía bắc và phía nam cửa Đại. Vùng bồi tụ mạnh nhất là cửa Ba Lai, phía nam cửa Hàm Luông đến phía bắc cửa Cổ Chiên, diễn ra liên tục, tạo thành sân nghêu lớn ở phía đông cồn Lớn, trải dài trên diện tích từ Vàm Hồ đến cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực chỉ thấy ở diện tích nhỏ nằm phía tây cồn Lớn thuộc cửa Cổ Chiên và rải rác ở phía bắc và phía nam của sông này. Cửa Cổ Chiên thường có độ sâu 5 đến 6 m và ít bãi cạn, nên giao thông tương đối thuận lợi. Cửa Cung Hầu nông hơn cửa Cổ Chiên, có một bãi nông trên mực nước triều trung bình án ngữ ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn.

Nhìn chung, vùng hạ lưu và vùng cửa sông có nhiều cồn bãi nổi và ngầm. Vì vậy, việc ra vào, đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn, trừ cửa Cổ Chiên có khá hơn chút ít.

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer