Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Niên biểu
1. Niên biểu này bắt đầu từ năm 1620 cho đến năm 2000.2. Những sự kiện xác định rõ được ngày, tháng, năm thì có ghi đầy đủ ngày, tháng, năm.​​3. Những sự kiện xảy ra trong một quá trình, mà không xác định được ngày thì ghi tháng hoặc năm. Những ngày tháng thuộc âm lịch có ghi thêm (âl).4. Niên biểu này ghi lại những sự kiện xảy ra trên đất Bến Tre cùng những sự kiện lịch sử khác xảy ra ở... 
 
1994 19 tháng 5, Khánh thành cầu Chợ Lách, dài 20m, rộng 5m, gồm 7 nhịp bắc qua kênh Chợ Lách, nối liền trục tỉnh lộ 888, nay là quốc lộ 57, từ thị trấn Chợ Lách qua xã Phú Phụng. 20 tháng 7, Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-VH/QÐ công nhận chùa Tuyên Linh, xã Minh Ðức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre là di tích lịch sử. 29 tháng 8, Thành lập xã An Ðiền và thị trấn Thạnh Phú (thị trấn huyện ... 
 
1976 31 tháng 3, Ủy ban Quân quản làm lễ bàn giao nhiệm vụ cho Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre. 24 tháng 6, Tại thủ đô Hà Nội, Quốc hội (khóa VI) của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên từ ngày 24-6-1976 đến ngày 2-7-1976. 2 tháng 7, Cuộc họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI đã thông qua quyết định lấy tên nước Việt Nam thống nhất là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội cũng quyết định đặt ... 
 
1970 26 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống VNCH, ban hành "Luật người cày có ruộng" nhằm tạo ra một tầng lớp xã hội là tư sản ở nông thôn, làm chỗ dựa về kinh tế, chính trị, xã hội cho chế độ thực dân mới. 6 tháng 7, "Chuồng Cọp”, một chứng tích về thủ đoạn ngược đãi tù chính trị ở nhà lao Côn Ðảo, bị vạch trần và trở thành vấn đề quốc tế lớn. 1971 22 tháng 6, Thượng nghị viện Mỹ... 
 
1965 27 tháng 1, Nguyễn Khánh lật đổ chính phủ dân sự Trần Văn Hương. Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng, Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng. 7 tháng 2, Mỹ bắt đầu ném bom lại miền Bắc, lấy cớ là "hành động trả đũa” việc tấn công vào thị xã Pleiku của Quân giải phóng. 20 tháng 2, Cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đứng đầu. Phan Huy Quát được đưa lê... 
 
1962 1 tháng 2, Hồi 18g30, Ðài phát thanh Giải phóng, tiếng nói của MTDTGPMNVN bắt đầu phát sóng. 8 tháng 2, Mỹ quyết định lập Bộ Tư lệnh hành quân chung giữa Mỹ và Việt Nam, gọi tắt là MACV (Military Assitance Command Vietnam) gồm trên 4.000 cố vấn, do tướng Paul D. Harkins cầm đầu. 16 tháng 2, Khai mạc Ðại hội MTDTGPMNVN lần thứ nhất, có hơn 100 đại biểu, gồm đủ các tầng lớp xã hội, tôn giáo, dâ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Cái CốiCái Cối
 

Rạch nằm bên phía tả ngạn chảy ra sông Bến Tre, đối diện với chợ Bến Tre, nay thuộc xã Mỹ Thạnh An. Nhiều thợ làm nghề đóng cối xay lúa bằng tre tập trung bên bờ rạch và hình thành nên một xóm thợ làm nghề thủ công phục vụ cho việc xay giã lúa gạo. Từ đó, rạch này mang cái tên Cái Cối (trước đây khi chưa có máy xay xát cơ giới, việc xay giã lúa gạo đều làm theo lối thủ công).

Đã ban hành
Động vật dưới nướcĐộng vật dưới nước
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.

Động vật nổi:

Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắt xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1 m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.

Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn - mắt xích thức ăn thức hai của thủy vực – và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Vào tháng 3, 1 m3 nước sông chứa 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1 m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm copepoda.

Động vật đáy:

Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.

Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.

Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 gam/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất v.v...

Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây:

a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát. Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.

b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa.

c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng.

d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.

e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3%o, lý tưởng nhất là 10%o. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 20o – 30oC, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, đìa, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông) và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.

Có hai vụ tôm giống trong năm: vụ chính vào tháng 4 âm lịch và vụ phụ vào tháng 7 âm lịch. Tôm thẻ rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường (CO2, pH, nồng độ muối và các loại chất độc). Nếu gặp điều kiện bất lợi, chúng sẽ dễ dàng di cư đi nơi khác.

Đặc điểm sinh hoạt của tôm sú: tôm sú có chu kỳ sống tương tự như tôm thẻ, tự nhiên khả năng thích nghi với biên độ dao động, nồng độ muối (độ mặn) rộng. Tôm có thể phát triển ở độ mặn từ 5 – 35%o, thậm chí với nước ngọt trong một thời gian ngắn. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú phát triển là 15 – 20%o. Nếu độ mặn lớn hơn 3%o vỏ tôm trở nên cứng, khó lột xác, ở độ mặn nhỏ hơn 10%o, vỏ tôm mềm nên dễ nhiễm bệnh.

Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh bằng mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.

Đã ban hành
Hội từ thiện Rotari khảo sát tiềm năng du lịch ở Bến TreHội từ thiện Rotari khảo sát tiềm năng du lịch ở Bến Tre

<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Ngày 26-4, ông Christopher Stewart Smale,
Chủ tịch Hội từ thiện Rotari (Úc) và phái đoàn đã đến khảo sát một số điểm có
tiềm năng phát triển du lịch tại Bến Tre.</span>
Image
Thăm cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở Cồn Phụng
Ngày 26-4, ông Christopher Stewart Smale, Chủ tịch Hội từ thiện Rotari (Úc) và phái đoàn đã đến khảo sát một số điểm có tiềm năng phát triển du lịch tại Bến Tre.

Đoàn đã được bà Dương Ngọc Duyên và ông Trần Duy Phương, Giám đốc và Phó Giám đốc Sở Thương mại-Du lịch, đưa đi khảo sát thực tế tại các dự án du lịch như khu du lịch sinh thái sân chim Vàm Hồ ở xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri có diện tích 6 ha, công suất phục vụ 100.000 lượt khách/năm, tổng vốn đầu tư 20 triệu USD; khu du lịch sinh thái Cồn Ốc, xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, diện tích 15 ha, vốn đầu tư 20 triệu USD, phục vụ 100.000 lượt khách/năm; khu du lịch Cồn Qui thuộc hai xã Tân Thạch-Quới Sơn, huyện Châu Thành, diện tích 40 ha, phục vụ 200.000 lượt khách/năm, vốn đầu tư 25 triệu USD. Đây là 3 dự án lớn được ngành du lịch Bến Tre tập trung kêu gọi đầu tư.

Sau khi đi khảo sát thực tế, đoàn từ thiện Rotari đã ghi nhận một số nét lớn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, các chính sách ưu đãi của 3 điểm du lịch trên và có thể sẽ đầu tư vào một điểm có điều kiện hơn trong tương lai.

Được biết, Hội từ thiện Rotari đã thường xuyên hỗ trợ cho 100 trẻ em nghèo ở Bến Tre và nhiều chương trình từ thiện giúp các hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, tạo cho họ điều kiện vươn lên trong cuộc sống. Mục đích đầu tư du lịch của Hội cũng nhằm sử dụng khoản lợi nhuận để hỗ trợ cho chương trình này.

Đã ban hànhHữu Hiệp
Đạo Tin LànhĐạo Tin Lành
&nbsp;

Đạo Tin Lành nhập vào Bến Tre năm 1925 do Nguyễn Châu Thông, mục sư của nhà thờ Tin lành tại thị xã Mỹ Tho truyền đến. Lúc đầu, Nguyễn Châu Thông mướn hai căn nhà của tư nhân tại đường Phan Ngọc Tòng ở thị xã Bến Tre làm nơi giảng đạo, cho đến năm 1957 mới xây dựng nhà giảng kiên cố tại phường I, thị xã Bến Tre.

Cũng trong thời gian này (1925-1957), một số chi hội khác được lập ở Tiên Thủy, Tân Thạch (huyện Châu Thành) và thị trấn Mỏ Cày. Từ năm 1957, chi hội tin lành Bến Tre tách khỏi chi hội Mỹ Tho và trực thuộc tổng Liên hội Miền Tây. Từ lúc truyền vào Bến Tre đến năm 1995, đạo tin lành chỉ có một phái là "Phúc âm liên hiệp" tức "Hội liên hiệp cơ đốc và truyền giáo Bắc Mỹ" (The Christian and Missionnary Alliance) gọi tắt là CMA, là tổ chức Tổng hội Tin lành Việt Nam. Đạo Tin Lành ở Bến Tre không có hệ thống tổ chức từ tỉnh xuống các xã như các tôn giáo khác. Nhà thờ Tin lành thường được gọi là "nhà giảng", tín đồ đến nghe mục sư giảng và hát thánh ca là chủ yếu, sau đó ra về.

Toàn tỉnh có 12 nhà giảng. Từ năm 1925 đến nay có 14 mục sư (hiện nay có 1 mục sư) và 12 thầy phụ giảng với khoảng 451 tín đồ. So với đạo Thiên Chúa, thì số lượng tín đồ của đạo Tin Lành trong tỉnh chỉ bằng 1/16 lần. Đại bộ phận tín đồ là công chức, binh lính của chế độ cũ, tiểu chủ, tiểu thương, một số ít thuộc tầng lớp phú nông, số còn lại thuộc thành phần lao động. Đội ngũ mục sư truyền đạo đa số thuộc loại trẻ, khoảng tuổi 40 trở lui, có trình độ học vấn khá, được đào tạo công phu ở các trường của giáo hội. Cũng có mục sư tốt nghiệp cử nhân Anh văn và cử nhân Thần học.

Đạo Tin Lành ở Bến Tre phát triển mạnh dưới thời thực dân mới, tuy nhiên do hoàn cảnh địa lý, việc đi lại khó khăn và do phong trào cách mạng ở đây cao, cho nên đạo Tin Lành không có điều kiện phát triển sâu trong nông thôn được.

Sau ngày giải phóng, một số tín đồ tỏ ra nhạt đạo, giảm nhịp độ cầu kinh, đi nhà giảng, như trường hợp ở Mỏ Cày. Trước 1979, số tín đồ ở thị trấn này có 300 người, nay giảm xuống còn 33. Cùng với việc tuyên truyền về đạo lý, củng cố đức tin cho tín đồ, các mục sư Tin lành cũng rất quan tâm đến những hoạt động xã hội, công tác từ thiện, phát triển các đoàn văn nghệ để tập hợp lực lượng thanh thiếu nhi. Từ năm 1976 về sau, ở một số huyện và thị xã Bến Tre bắt đầu có các phái Tin lành "Cơ đốc phục lâm","Phúc âm ngũ tuần" Jéhovah’s, bằng nhiều hình thức truyền đạo trái phép vào đồng bào ở một vài vùng sâu của tỉnh Bến Tre.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )

1965

27 tháng 1, Nguyễn Khánh lật đổ chính phủ dân sự Trần Văn Hương. Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng, Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng.

7 tháng 2, Mỹ bắt đầu ném bom lại miền Bắc, lấy cớ là "hành động trả đũa” việc tấn công vào thị xã Pleiku của Quân giải phóng.

20 tháng 2, Cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đứng đầu. Phan Huy Quát được đưa lên làm Thủ tướng Chính phủ.

3 tháng 3, Lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu làm Quốc trưởng và Ủy ban hành pháp trung ương do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch.

8 tháng 3, 1.500 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bãi biển Nam Ô (Ðà Nẵng), đưa số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên 27.000 người, đánh dấu bước can thiệp trực tiếp của Mỹ bằng quân sự.

Tháng 5, Lữ đoàn lính dù 173, đơn vị lính chiến đấu của Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Vũng Tàu, mở đầu cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam.

10 tháng 6, Phan Huy Quát từ chức Thủ tướng, chấm dứt chế độ dân sự. Từ đây, chế độ Sài Gòn chuyển sang chính quyền quân sự.

11 tháng 6, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thay thế Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát.

24 tháng 6, Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tình trạng chiến tranh trên toàn lãnh thổ miền Nam, đóng cửa một loạt 36 tờ báo ngày ở Sài Gòn. Không quân Mỹ bắt đầu vượt khỏi vĩ tuyến 17, oanh tạc dữ dội miền Bắc.

2 tháng 9, Thành lập sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Ðông Nam Bộ - theo quyết định của TƯCMN, sau chiến dịch Bình Giã - Ðồng Xoài. Sư đoàn 9 đã góp phần xuất sắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam năm 1975.

1966

17 tháng 7, Trước tình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, ném bom, bắn phá thủ đô Hà Nội, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

15 tháng 11, Theo sáng kiến của nhà triết học Anh nổi tiếng Bertrand Russell, ngày 5-11-1966, Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam được thành lập tại London (Anh).

1967

26 tháng 1, Bộ Tư lệnh quân Mỹ tuyên bố số quân Mỹ hiện có mặt ở miền Nam Việt Nam đã vượt quá con số 400.000 người.

8 tháng 2, Tổng thống Johnson trao đổi thư với Chủ tịch Hồ Chí Minh (công bố ngày 21-3) đề nghị thương lượng bí mật. Chính phủ VNDCCH bác bỏ đề nghị đó.

2 tháng 5, "Tòa án quốc tế xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam" do nhà bác học Bertrand Russell kết án Mỹ là tội phạm chiến tranh.

3 tháng 9, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ Phó tổng thống VNCH.

23 tháng 11, Ðơn vị bộ đội đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy, tiến công hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre (tàu mang số 833, dài 110m, rộng 25m). Với 200kg thuốc nổ, các chiến sĩ đặc công đã nhận chìm tàu giặc trên dòng Hàm Luông.

7 tháng 12, Tổng thống Mỹ Johnson công bố số bom ném xuống miền Bắc Việt Nam lớn gấp 3 lần so với chiến tranh Thái Bình Dương.

29 tháng 12, Vào đêm 29, bộ đội đặc công thủy Bến Tre đã đột nhập “căn cứ nổi” trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có tàu hải quân mang số 812, dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M113 bị chìm xuống đáy sông.

Tháng 12, Số quân Mỹ ở chiến trường miền Nam lên đến 480.000. Lực lượng bảo vệ vòng trong, vòng ngoài ở Sài Gòn tương đương 4 sư đoàn lính Mỹ, 4 sư đoàn lính Sài Gòn, 1 tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân.

Tháng 12, Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, dân số tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) có 518.838 người.

1968

30 tháng 1, Ðêm 29 rạng 30, hưởng ứng mệnh lệnh của Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN, quân dân của gần 40 thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam đã đồng loạt nổi dậy tiến công địch nhiều đợt liên tiếp.

Tại Bến Tre, quân ta tấn công vào thị xã, diệt 6 xe thiết giáp, chiếm Ðài phát thanh, chỉ huy sở trung đoàn 10, diệt gần hết tiểu đoàn 3.

8 tháng 2, Bộ tư lệnh quân đội Mỹ công bố số quân Mỹ miền Nam Việt Nam đã lên tới con số 500.000 người.

3 tháng 5, VNDCCH và Mỹ đồng ý bắt đầu hội đàm ở Paris từ ngày 10-5. VNDCCH cử ông Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, ông Hà Văn Lâu làm Phó đoàn. Phía Mỹ cử ông Harriman làm Trưởng đoàn và ông Vance làm Phó đoàn.

15 tháng 5, VNDCCH và Mỹ họp phiên chính thức đầu tiên tại cuộc hội đàm Paris.

4 tháng 7, Số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên đến 537.000 người.

31 tháng 10 ,Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện MTDTGPMNVN ở cuộc hội đàm Paris.

Tháng 10, Tỉnh Bến Tre được Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN tặng 8 chữ vàng "Anh dũng Ðồng khởi - Thắng Mỹ diệt Ngụy" và được công nhận là một trong 3 ngọn cờ đầu của phong trào du kích chiến tranh.

1969

18 tháng 1, Phiên họp đầu tiên 4 bên (MTDTGPMNVN, VNDCCH, Mỹ, VNCH) 3 Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc. Trưởng đoàn MTDTGPMNVN Trần Bửu Kiếm phát biểu trước, nêu lên lập trường 5 điểm để giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam.

24 tháng 1, Báo Tin sáng đăng một loạt bài tố cáo chế độ lao tù hà khắc ở Côn Ðảo, mở đầu cho phong trào đấu tranh chống lại chế độ lao tù dã man của chế độ VNCH.

7 tháng 4, Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" mà báo chí ở Sài Gòn thường gọi là "thay màu da cho những xác chết".

Tháng 4, Quân địch mở chiến dịch “bình định cấp tốc” tỉnh Bến Tre.

6 tháng 6, Ðại hội Ðại biểu quốc dân miền Nam từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Ðóa làm Phó chủ tịch.

2 tháng 9, Tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đến với nhân dân Sài Gòn - Gia Ðịnh qua Ðài phát thanh tiếng nói Việt Nam giữa lúc thành phố đang trong những ngày khó khăn gian khổ nhất. Bất chấp sự theo dõi của địch, các tầng lớp nhân dân, trí thức, nhân sĩ, công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, nông dân, tư sản, thanh niên, sinh viên, sư sãi, phật tử... đã tổ chức lễ truy điệu Người bằng nhiều hình thức công khai hoặc bí mật. Nhiều tờ báo xuất bản ở Sài Gòn đã đăng tin, bài cảm nghĩ của trí thức, nhân sĩ ở thành phố về Người...

3 tháng 11, Tổng thống Mỹ Nixon đọc diễn văn nói về việc kết thúc chiến tranh bằng “kế hoạch Việt Nam hóa” giao gánh nặng cho quân đội Sài Gòn. Thực chất đây là kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt của Nixon.

16 tháng 11, Thời báo New York đăng tin về vụ thảm sát Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) của quân đội Mỹ gây nên một dư luận xôn xao ở nước Mỹ, ở miền Nam Việt Nam và cả trên thế giới.

Đã ban hành
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreChủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre - Họ và tên: Cao Văn Trọng
- Sinh ngày: 09/9/1961
- Quê quán: Xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Kinh tế Công nghiệp; Cử nhân Hành chính; Thạc sĩ Chính sách công
- Lý luận Chính trị: Cử nhân

Đã ban hành
Thạnh PhongThạnh Phong
&nbsp;

Xã ven biển của huyện Thạnh Phú, đã 2 lần được chọn làm nơi xuất phát những chuyến vượt biển ra Hà Nội để báo cáo tình hình với Trung ương và xin chi viện cho cách mạng miền Nam. Lần thứ nhất vào cuối tháng 3-1946. Lần thứ hai vào tháng 7-1961. Trong KCCP, rừng ngập mặn xã Thạnh Phong là căn cứ địa của huyện Thạnh Phú và của tỉnh Bến Tre. Trong KCCM, Thạnh Phong là một trong những đầu cầu quan trọng tiếp nhận vũ khí và hàng chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc.

Xã Thạnh Phong đã được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn ĐứcPhó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Đức
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Đức
NguyenVanDuc.jpg
- Họ và tên: Nguyễn Văn Đức
- Sinh năm: 1966
- Quê quán: Xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Kinh tế
- Lý luận Chính trị: Cao cấp


Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Rạch Cái QuaoRạch Cái Quao

<br />

Cái: từ cổ là con rạch. Quao là loài cây mọc ven bờ sông, bờ rạch, trái ra từng chùm, dài từ 20 -30cm, hình cong và nhọn ở đầu giống như chiếc sừng trâu. Dưới thời Minh Mạng (1820 -1840). Cái Quao là huyện lỵ của huyện Duy Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Cái Quao cũng là một tụ điểm dân cư được khai phá và hình thành tương đối sớm ở cù lao Minh. Cái Quao nay thuộc xã An Định, huyện Mỏ Cày.

Đã ban hành
Lê Hoằng Mưu  (1879 – 1942)Lê Hoằng Mưu  (1879 – 1942)

    Ông sinh tại Cái Cối, nay là xã Mỹ Thạnh An, thị xã Bến Tre. Ngoài tên thật, ông còn có bút hiệu Mộng Huê Lầu. Về trình độ học vấn, khi bước vào đời, ông chưa hết bậc trung học Pháp - Việt lúc bấy giờ.

   Năm 1921, khi tờ Nam Trung nhật báo sáp nhập vào tờ Lục tỉnh tân văn, ông là chủ bút tờ báo này cho đến 1930. Cùng năm này, ông cùng Võ Thành Út sáng lập tờ Long Giang độc lập (xuất bản mỗi tuần 3 số) do Lưu Công Châu làm chủ bút. Đến năm 1931, tờ báo bị đình bản một thời gian, sau được tục bản cho đến ngày 11-5-1934 thì bị chính quyền thực dân đình bản vĩnh viễn..

   Đánh giá về vai trò của ông trong làng báo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, Lãng Tử với tựa đề Con voi già trong mục “Nợ văn” trên tờ tuần báo Mai xuất bản tại Sài Gòn đã viết như sau: “Đó là một nhà viết báo kỳ cựu trong gần ba mươi năm nay hằng mục kích những cái vinh, cái nhục của nghề và bao nhiêu chế độ đổi thay (…). Buổi ấy, Lê quân là người có "tài sắc" nên tiếng tăm nổi dậy như cồn. Lời văn cũng lý luận đã lôi cuốn, hấp dẫn, chinh phục cả xứ Nam Kỳ và cả thế hệ thanh niên hồi đó (…) Tài bút chiến của ông làm khuất phục cả các bạn cùng nghề thuở nọ. Nói rằng khét tiếng một độ rất lâu trong báo giới xứ này, thì cái danh dự ấy chỉ riêng ông có". (2)

  Lê Hoằng Mưu cũng là một trong số các cây bút tiểu thuyết thuộc giai đoạn phôi thai ở Nam Kỳ trong những năm 20 của thế kỷ này. Ông là tác giả của các tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt (1918), Oán hồng quần, tức Phùng Kim Huê ngoại sử (1920), Tô Huệ Nhi (1920), Oan kia theo mãi, tức Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật (1922). Quyển tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt sau khi ra đời, đã gây nên một cuộc bút chiến sôi nổi, và cuối cùng nhà cầm quyền thuộc địa đã ra lệnh tịch thu và tiêu hủy tác phẩm. Cũng theo tác giả bài viết trên, thì Lê Hoằng Mưu là cây bút tiểu thuyết có xu hướng "cách tân" lúc bấy giờ, do vậy ông được lớp người trẻ chào đón nồng nhiệt. Tác giả viết: “Lúc ảnh hưởng của Tống Nho đang còn khắc nghiệt vô cùng, mà Lê quân cũng đã dám có những ý nghĩ táo tợn, dạn dĩ mà viết Hà Hương phong nguyệt. Sách truyện hồi đó ông viết ra thật nhiều và đều bán chạy như tôm tươi giữa chợ buổi sớm. Ông nổi danh quá lắm (…) ông vẫn là người được nghề chiều đãi một hồi rất mực. Lương chủ bút đã từng ai ăn cao hơn Lê quân? Và lúc báo giới mới phôi thai, làng báo còn đang thưa thớt, ai đã từng được kính mến, thán phục bằng ông”. (3)

Chú thích:

(1) Về năm sinh và năm mất của tác giả, ông Bùi Đức Tịnh ghi theo trí nhớ của bạn bè của ông Lê Hoằng Mưu. Xem Bùi Đức Tịnh, Phần đóng góp của văn học miền Nam: Những bước đầu của báo chí tiểu thuyết và thơ mới, Nxb Lửa Thiêng, S., 1975
(2)
Tuần báo Mai số 68, ngày 6-1-1939, dẫn theo Bùi Đức Tịnh, Sđd.
(3)
Tuần báo Mai

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN MẾN
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng
1. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; kiểm soát thủ tục hành chính; tổ chức triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động chung của Ủy ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.
 2. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
Nhiệm vụ và quyền hạn
1. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
a) Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.
2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Ủy ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;
b) Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;
c) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;
d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;
đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;
e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Phục vụ hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;
c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Tổ chức công tác tiếp công dân; phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh theo quy định của pháp luật.
5. Tham mưu, giúp Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;
b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện;
c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;
d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;
đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.
6. Tiếp nhận, xử lý, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):
a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Ủy ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;
b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.
7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;
c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;
d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
8. Thực hiện chế độ thông tin:
a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Tổ chức quản lý, xuất bản Công báo điện tử tỉnh;
d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Ủy ban nhân dân tỉnh;
đ)  Cung cấp thông tin do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tạo ra và thông tin do Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tạo ra theo quy định của Luật tiếp cận thông tin năm 2016.
9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:
a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng:
Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.
11. Thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính
a) Tham gia ý kiến về nội dung quy định thủ tục hành chính tại đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Đôn đốc, kiểm soát chất lượng công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện công khai thủ tục hành chính tại trụ sở nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; tích hợp dữ liệu thủ tục hành chính để công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh theo quy định;
d) Nhập, đăng tải công khai, tích hợp, khai thác, quản lý dữ liệu thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;
đ) Tổ chức thực hiện việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính; kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền các giải pháp, sáng kiến đơn giản hóa thủ tục hành chính;
e) Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh;
g) Tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và vận hành, khai thác hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp;
h) Tham mưu, tổ chức kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương;
i) Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã;
k) Thông tin, tuyên truyền; tổng hợp, báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính.
12. Thực hiện nhiệm vụ một cửa, một cửa liên thông
Tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
 13. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:
a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;
c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc uỷ quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;
đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức
1. Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.
2. Các đơn vị chuyên môn trực thuộc:
a) Phòng Tổng hợp;
b) Phòng Kinh tế;
c) Phòng Tài chính - Đầu tư;
d) Phòng Khoa giáo - Văn xã;
đ) Phòng Nội chính;
e) Phòng Kiểm soát Thủ tục hành chính;
g) Phòng Hành chính - Tổ chức;
h) Phòng Quản trị - Tài vụ;
i) Phòng Ngoại vụ;
Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ. Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
k) Ban Tiếp công dân tỉnh.
Ban Tiếp công dân có Trưởng ban, Phó Trưởng ban và công chức làm công tác tiếp công dân. Trưởng ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân;
Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Đơn vị hành chính đặc thù: Trung tâm Phục vụ hành chính công.
a) Trung tâm Phục vụ hành chính công có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và công chức, viên chức do các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh cử đến làm việc. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh cử công chức, viên chức quản lý, vận hành trụ sở, trang thiết bị máy móc, hệ thống mạng của Trung tâm Phục vụ hành chính công;
b) Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định bổ nhiệm theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính;
c) Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:
a) Trung tâm Thông tin điện tử
Trung tâm Thông tin điện tử có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ.
b) Nhà Khách Hùng Vương
Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử; Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Biên chế, số lượng người làm việc
Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại các đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao. Riêng số lượng người làm việc tại Nhà khách Hùng Vương do Chủ nhiệm Nhà khách xác định trong Đề án vị trí việc làm của Nhà khách, trên cơ sở bảo đảm việc làm ổn định và thu nhập cho số lượng người làm việc tại đơn vị theo quy định.

(Nguồn Quyết định 36/2019/QĐ-UBND)

Tập tin đính kèm: QD_36_2019.pdf


Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Nguyễn Văn Đức

Phó Chủ tịch

Nguyễn Trúc Sơn

Đã ban hành
Nhà cổ Đại ĐiềnNhà cổ Đại Điền
Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Ngôi nhà do ông Khiêm xây dựng từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Những câu chuyện kể lại rằng: Các người thợ lúc  kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném hột quanh nhà, khi hột bưởi nẩy mầm thành cây lớn lên cho trái chín, ngôi nhà vẫn chưa xong (một cây bưởi trồng từ hột phải mất 6 - 7 năm mới cho trái). Các thợ làm nhà từ lúc còn bé cho đến khi lớn lên được ông đứng ra lo việc vợ con, nhà vẫn chưa hoàn thành. Theo lời kể, phải trên 10 năm mới xây dựng xong ngôi nhà. Thợ làm nhà là những người thợ ở miền ngoài vào, có thể là thợ miền Trung hoặc miền Bắc, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. 

 

Nằm trên khoảng đất rộng, cao ráo, chung quanh trồng cây ăn trái, ngôi nhà có diện tích trên 500m2,  được cất theo kiểu nhà xuyên trính, ba gian hai chái  ba (hay còn gọi là nhà tám đấm tám khuyết). Nền nhà cao gần 1m, kè đá xanh, bên trong lót gạch tàu xen với gạch bông. Sườn nhà bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói thí có hoa văn màu rất đẹp (hiện nay chỉ còn lại rất ít). Tường vôi bao bọc xung quanh với nhiều cửa sổ và khuôn bông thông gió, bốn phía đều có cửa ra vào. Mặt chính ngôi nhà quay về hướng Đông là con đường chính của xã.

Nhà có 80 cây cột trong đó 48 cây cột bằng gỗ lim và 32 cột gạch (hàng cột thứ tư). Cột cái to, cao trên 5 mét. Kèo là những thanh gỗ to đẻo cong gọi là kèo vỏ đậu. Kèo làm từng đoạn nối chồng lên nhau ở mỗi đầu cột, thân kèo được chạy chỉ viền và chạm nổi hoa văn; đầu kèo chạm hình rồng; thân kèo ở mỗi đoạn làm khác nhau và nhỏ dần từ trên xuống. Đặc biệt, đoạn kèo cuối (từ hàng cột thứ ba ra hàng cột thứ tư) được làm rất công phu theo hình long giáng, thân kèo cách điệu thân rồng uốn lượn, đuôi kèo hình đầu rồng đỡ mái nhà.

Ngoài lớp tường ngoài, bên trong còn một lớp vách gỗ bao bọc 3 gian giữa và một phần chái ở 2 đầu xông của ngôi nhà. Bốn phía có 9 cửa đi vào, vách phía trước có 5 cửa mở vào các gian thờ, các cửa còn lại bố trí ở hai bên và phía sau. Cửa giữa phía trước treo tấm biển Huỳnh Phủ bằng chữ Hán được sơn son thiếp vàng. Lớp vách nầy chia ngôi nhà làm hai phần: phần bên trong là nơi thờ tự, phần bên ngoài dùng để tiếp khách và các sinh hoạt hằng ngày. Phần bên trong lại được chia làm hai bởi một  tấm vách lụa: hai phần phía trước là nơi thờ tự, một phần phía sau là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của gia đình. Phần phía trước lại có vách ngăn giữa ba gian chính và hai gian phụ hai bên.

 161007_82.jpg

Ba gian chính - phần trung tâm của ngôi nhà là nơi thờ tự tôn nghiêm - nên tất cả những công trình chạm khắc gỗ trên hoành phi, bao lam, khánh thờ đều được sơn son thiếp vàng và cẩn ốc xà cừ, thể hiện lòng tôn kính đối với người đã mất.

Nhà ông Hương Liêm được xây dựng bằng các loại cây gỗ quí với hoa văn chạm khắc trên gỗ mà đặc sắc nhất là hoa văn trên các khung cửa. Hoa văn trên khung cửa thể hiện trong các trám ngang hoặc trám đứng và chia thành thành từng tầng theo các đố ngang, đố dọc.

Trang trí ở nhà ông Hương Liêm gồm có hoành phi, liễn đối, bao lam, và chạm khắc trên gỗ. Cách trang trí đa dạng theo từng phần của ngôi nhà. Vách gỗ kết hợp giữa chạm lộng, chạm nổi và chạm lưới. Khung cửa chạm nổi xen với cẩn ốc xà cừ. Liễn áp cột và tranh trong các khánh thờ được cẩn ốc. Bao lam cột và khánh thờ chạm lộng kết hợp với sơn son thiếp vàng. Ốc xà cừ được cẩn rất tỉ mỉ trên chữ, hoa lá, cỏ cây,… đến từng đường nét nhỏ nhặt nhất.

Tùy theo kiểu chạm khắc mà hoa văn khác nhau. Hoa văn chạm lộng, ngoài lộng hình còn có lộng chữ Hán hoặc lộng song. Hoa văn chạm nổi là đa dạng nhất từ hoa trái, cây cỏ đến chim thú, côn trùng ở dưới nước và trên cạn (trúc, hoa sen, hoa súng, hoa mai; lúa, dưa hấu, đào lộn hột (điều), khế, mảng cầu (na), lựu, xoài, nho, ổi, cà; chim, chuột, vịt, gà, tôm càng xanh, cua ,cá, sóc, thỏ, rái cá; dơi, chuồn chuồn, bướm,…).

Tinh xảo và công phu nhất là hoa văn ở các trám với kiểu chạm nổi hai lớp. Lớp bên trong chạm lộng như lớp lưới, lớp ngoài là chạm nổi. Tùy theo mỗi trám mà lớp trong có hình dạng khác nhau: hình chữ thập, hình mắc lưới, hình tròn, hình cánh hoa… làm nền cho lớp hoa văn chạm nổi bên ngoài. Hoa văn ở từng mảng không đơn thuần mà thường là kết hợp các loài động thực vật trong cùng một chủ đề như: sen – vịt – ếch; chim bói cá (đang ngậm cá) – sen; chim – gà – hoa cỏ; mai – đào; chim – lựu, điều – lựu; chuồn chuồn – cây cỏ hoa – thỏ…Hoa văn chạm nổi còn có kiểu "văn hóa lá" ( thân, dây các loại cây trái, con vật có hình rồng phụng) như: mai hóa rồng, lựu hóa cá, hóa rồng; dưa hấu hóa rồng, hóa phụng…. Các đồ án ngoài việc trang trí còn hàm ý cầu mong đa phúc, đa lộc, an khang, thịnh vượng cho gia chủ.

 161007_83.jpg

Các liễn áp cột cũng góp phần giúp cho nội thất ngôi nhà thêm phần cổ kính. Những Hán tự trên liễn đối được thể hiện rất công phu, không chỉ có chữ mà còn phối hợp với hoa văn cẩn ốc theo các kiểu: hoa văn và chữ, hoa văn trong chữ, chữ trong hoa văn và còn có cả thi - họa (liễn đối là thơ và tranh Nhị Thập Tứ Hiếu).

Đồ án đa dạng, sắc xảo không chỉ thể hiện sự điêu luyện mà còn có cả tâm huyết của những nghệ nhân bậc thầy đã gửi gắm vào công trình đến từng chi tiết. Những tác phẩm chạm khắc gỗ dầy đặc, chắc chắn nhưng uyển chuyển sinh động không thô kệch và càng nhìn càng thấy được nét tinh xảo trên từng đường nét. Đồ án trang trí còn thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy tài hoa trong việc kết hợp đề tài dân dã từ các loài động thực vật quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của cư dân địa phương với các đề tài theo khuôn mẫu đã có như bát bửu, tứ linh, tứ quí, sen hạc, tùng lộc, bách điểu… vào trong tác phẩm chạm khắc của mình.

Nhà ông Hương Liêm không còn được cái dáng vẻ "tươm tất" do thiếu sự đầu tư chăm sóc. Tuy nhiên nội thất còn gần như nguyên vẹn, là cả một công trình nghệ thuật của nghề chạm khắc gỗ, không thua kém những ngôi nhà cổ đẹp hiện còn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Hơn 100 năm đã trôi qua, thế sự biết bao thay đổi. Nhà ông Hương Liêm giờ cũ kỹ rêu phong, đứng trầm mặc bên cạnh con đường đất đỏ như để minh chứng cho thời vàng son của nó khi xưa. Nó xứng đáng và cần được bảo tồn cho hậu thế.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến TreKhám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến Tre
Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch sinh thái vùng ven thành phố Bến Tre phát triển mạnh kể từ năm 2010 cho đến nay, tuy có bước hình thành và phát triển khá muộn so với các huyện khác có tiềm năng lớn để phát triển du lịch như: Châu Thành, Chợ Lách, nhưng du lịch vùng ven thành phố Bến Tre đã có sự phát triển nhanh, hiệu quả cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Hiện thành phố Bến Tre có 8 cơ sở hoạt động du lịch, 45 cơ sở lưu trú, một làng nghề dệt chiếu truyền thống, một cơ sở sản xuất các loại đũa và nhiều điểm tham quan chế biến dừa đã làm phong phú và hấp dẫn cho tour du lịch trong ngày.

 

Tham quan làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre

Thành phố Bến Tre với sự duyên dáng, e ấp của một thành phố trẻ và năng động như có sức hấp dẫn với du khách. Sau khi tham quan các danh lam, thắng cảnh hay các công trình kiến trúc tại trung tâm thành phố như Hồ Trúc Giang, Bảo tàng tỉnh, di tích đình Phú Tự với cây bạch mai trên 300 năm tuổi,… du khách có thể tham gia một chương trình tour tham quan du lịch vùng ven thành phố với nhiều khám phá thú vị. Khởi hành từ bến tàu Hùng Vương, du khách sẽ xuống tàu xuôi theo dòng sông Bến Tre để khám phá du lịch các xã ven thành phố Bến Tre. Trên tàu du lịch, du khách sẽ được ngắm nhìn chiếc cầu Bến Tre có một kiến trúc đẹp, được bắc ngang sông Bến Tre nối liền trung tâm thành phố Bến Tre với các xã ven thành phố như: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, nối liền đường tỉnh 887 đi các huyện Giồng Trôm, Ba Tri. Du khách ngắm chợ Bến Tre duyên dáng bên dòng sông hiền hòa, cùng khách sạn Việt Úc đạt chuẩn 3 sao càng tô điểm thêm vẻ đẹp tráng lệ của thành phố ở vùng sông nước xứ dừa. Dọc hai bên sông là những cơ sở lột dừa, và chế tác các sản phẩm từ dừa trái như: cơm dừa, thạch dừa,.... Xa xa, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những con thuyền chở đầy ắp dừa xuôi theo dòng sông như một bức tranh hữu tình về một vùng quê sông nước yên bình và thơ mộng.

 

Du khách trải nghiệm khám phá du lịch sông nước vùng ven thành phố Bến Tre

Xuôi theo dòng sông, du khách sẽ bắt gặp những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng sông nước như: đăng lưới, bắt tôm, đặt lộp,… Điểm đến đầu tiên, du khách ghé vào tham quan lò gạch thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre của gia đình chú Tư Lô, để tìm hiểu các quy trình sản xuất những viên gạch xây dựng theo phương pháp thủ công truyền thống, được chủ lò gạch dẫn đi tham quan xung quanh lò gạch, và nghe hướng dẫn viên du lịch địa phương giới thiệu những nét độc đáo về nghề làm gạch truyền thống. Điểm tham quan lò gạch này được du khách quốc tế rất thích thú bởi họ biết thêm được nghề truyền thống của cư dân bản địa. Anh Charles Gaulle và chị Synoradzki du khách đến từ Pháp ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy từng viên gạch xuất lò, anh chị cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến Bến Tre, tham gia chương trình tour du lịch sông nước này, thuyền đưa chúng tôi bồng bềnh trên sông, được ngắm chợ Bến Tre, các cơ sở lột dừa, làm cơm dừa ven sông và cũng là lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy lò gạch như thế này. Nhìn thấy cảnh mọi người sản xuất gạch nhộn nhịp, chúng tôi cảm nhận được con người Bến Tre thật cần cù, chăm chỉ và cũng rất thân thiện...”. Sau khi tham quan lò gạch xong, du khách trở lại tàu du lịch và tiếp tục chuyến hành trình, thuyền lướt êm và rẽ vào một nhánh sông nhỏ với cảnh vật hai bên là những hàng dừa nước xanh um, đan xen với những hàng bần, một loại cây đặc thù của vùng sông nước, những hàng dừa cao vút thẳng tấp, say quả nghiêng mình bên dòng sông, những vườn trái cây như: cam, chanh, bưởi như e ấp nép mình trong ánh nắng, tỏa hương sắc trên miền sông nước miệt vườn.

Thuyền dừng lại một cơ sở chuyên lột dừa và làm cơm dừa nằm nép mình bên con sông nhỏ để tìm hiểu nghề sản xuất cơm dừa thủ công, du khách sẽ chứng kiến hình ảnh những công nhân lột dừa, đập dừa, cạy cơm dừa nhanh thoăn thoắt như những người thợ lành nghề, qua tìm hiểu thì những người công nhân này đều là người dân ở địa phương, cuộc sống của họ gắn liền với nghề lột dừa này đã mười mấy năm rồi, một anh công nhân vui vẻ cho biết! Có chứng kiến du khách mới hiểu rằng “Đúng là trăm nghe không bằng mắt thấy!”. Mỗi người ở đây trung bình lột khoảng 1.800 trái dừa/ngày. Du khách cũng có thể lột thử trái dừa qua sự hướng dẫn tận tình của những người thợ, nó sẽ là một kỉ niệm đáng nhớ trong chuyến đi của đoàn. Cách cơ sở lột dừa không xa là một điểm du lịch miệt vườn khá khang trang, lúc nào cũng nhộn nhịp, tấp nập khách ra vào, mà hầu hết du khách đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, phía trước điểm du lịch này có một quầy dịch vụ, trưng bày giới thiệu đến du khách nhiều mặt hàng lưu niệm độc đáo, lạ mắt như: các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dừa, dầu dừa, xà bông dừa, kẹo dừa,… Với không gian thoáng mát, du khách thưởng thức tách trà mật ong thơm lừng, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại trái cây ngon như: Bưởi, mận, mít, nhãn, khóm, xoài,... và nghe đờn ca tài tử Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật dân gian khá độc đáo đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tiếp tục chuyến hành trình, du khách sẽ đến cơ sở sản xuất kẹo dừa thuộc xã Nhơn Thạnh, tham quan quy trình làm kẹo dừa thủ công truyền thống, thưởng thức kẹo dừa nóng hỏi tại lò, nhai chầm chậm viên kẹo dừa, du khách sẽ cảm nhận được hương vị ngọt ngào, thanh khiết và béo ngậy của nước cốt dừa tan nơi đầu lưỡi, và có thể mua một ít kẹo dừa ở đây về làm quà cho người thân và bạn bè trong chuyến du lịch thú vị này. Thả bộ tham quan làng nghề dệt chiếu khá nổi tiếng ở Bến Tre để tìm hiểu về nghề dệt chiếu truyền thống, mọi người có thể thử dệt chiếu qua sự hướng dẫn nhiệt tình của nghệ nhân, để được trải nghiệm sản phẩm nơi làng nghề truyền thống. Nó sẽ có phần hơi khó khăn cho du khách bởi chưa quen tay, nhưng tất cả sẽ làm cho du khách thật sự ấn tượng. Sau đó, cả đoàn sẽ được di chuyển bằng chiếc xe lôi máy mang dáng dấp khá lạ mắt, đưa du khách băng qua những đường làng, với những hàng dừa xanh mát, những vườn cây ăn trái, những ruộng lúa, khu vườn, những liếp rau màu, ngắm cảnh sinh hoạt đời sống bình dị của người dân nơi đây. Dừng chân tại các nhà hàng sinh thái như “Dừa Xanh, Hai Hồ, Mưởi Nở,…” thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê với các món ăn mang đậm hương vị miệt vườn như: Tép rang dừa, cá tai tượng chiên xù, gỏi bưởi, cá kèo kho tiêu, cá lóc nướng trui, canh chua cá ngát,… giữa một không gian xanh, thật sự sẽ là một dấu ấn khó phai trong lòng mỗi du khách.

 

Thú vị khi chèo xuồng trong rạch dừa nước ở du lịch vùng ven thành phố Bến Tre

Một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá là du khách sẽ đi xuồng chèo trên con rạch dừa nước nhỏ ngoằn ngèo, quanh co, uốn lượn với hai bên là những hàng dừa nước xanh um, vươn sức sống mãnh liệt giữa vùng sông nước, xen lẫn là những hàng bần hay còn gọi là cây “thủy liễu” nở hoa thơm ngát, vươn mình trong gió như đong đưa chào gọi du khách. Trở ra sông Bến Tre, lên thuyền lớn kết thúc chương trình tham quan du lịch vùng ven thành phố Bến Tre với biết bao trải nghiệm thú vị. Chia tay thành phố Bến Tre với những kỷ niệm đáng nhớ về một Bến Tre thân thiện và mến khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tống Viết DươngTống Viết Dương


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre. Khi tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá,
trung đoàn trưởng trung đoàn 367 Đặc công, Quân khu 7.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Từ
thánh 2-1962 đến mùa xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> bộ và
Campuchia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường
huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), loại khỏi vòng chiến 500 tên
địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 22-1-1971,
Dương trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của
anh đã phá hủy nhiều máy bay diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá
hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4-1973, khi sắp nổ
súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ
binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo. Kết quả đã phá
hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26-6-1974, trong trận đánh căn cứ
biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có
nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22-8-1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tâp
kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến
dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8-1976 đến tháng 11-1978, Tống Viết Dương là quận
trưởng quân 5 Thành phố Hồ Chí Minh.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí đã được tặng thưởng 1 Huân chiến Công giải phóng hạng nhì. Ngày 6-11-1978,
Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 367 Đặc công, Quân khu 7.

Từ thánh 2-1962 đến mùa xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông Nam bộ và Campuchia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), loại khỏi vòng chiến 500 tên địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 22-1-1971, Dương trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của anh đã phá hủy nhiều máy bay diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4-1973, khi sắp nổ súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo. Kết quả đã phá hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26-6-1974, trong trận đánh căn cứ biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22-8-1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tâp kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8-1976 đến tháng 11-1978, Tống Viết Dương là quận trưởng quân 5 Thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chiến Công giải phóng hạng nhì. Ngày 6-11-1978, Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Đền thờ Huỳnh Tấn PhátĐền thờ Huỳnh Tấn Phát
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 02 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 02 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Ông đi làm một thời gian và mở văn phòng kiến trúc tư đầu tiên ở Sài Gòn (1840). Ông đoạt giải thiết kế và xây dựng Hội chợ triển lãm Đông Dương (vườn ông Tượng, Tao Đàn, năm 1941). Với nhiệt huyết của một trí thức yêu nước, ông chuyển sang hoạt động chính trị, tham gia phát triển nhiều phong trào yêu nước (Chủ nhiệm báo Thanh niên, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở miền Bắc đặc biệt là phong trào Thanh niên tiền phong mà ông là Trưởng ban cổ động).

Ngày 05 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn năm 1945. Năm 1946, ông bị bắt tại nhà in số 160 đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng). Trong khám ông được mọi người bầu làm Trưởng ban đại diện “Liên đoàn tù nhân khám lớn Sài Gòn”, biến khám lớn Sài Gòn thành trường học văn hóa, chính trị đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng.

Năm 1949, sau khi ra tù ông về khu giải phóng và được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Ngày 06 tháng 6 năm 1969, tại Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ông làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, ông cùng với các đồng chí Võ Chí Công, Phùng Văn Cung được bầu là những người đứng đầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, ông chỉ đạo Ban trí vận mặt trận khu Sài Gòn - Gia Định vận động trí thức yêu nước công tác ở Sài Gòn ra chiến khu thành lập Liên minh các lực lượng phong trào dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam. Năm 1976, ông được Quốc hội khóa VI cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1981, Quốc hội khóa VIII cử ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đến năm 1982.

Tháng 6 năm 1982, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, ông còn giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam. Ông chỉ đạo và góp ý kiến các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu, Tây Ninh,… Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng nhất,...

Ông mất ngày 30 tháng 9 năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

Ông Huỳnh Tấn Phát là một trí thức có nhiều uy tín trong xã hội nhưng ông không quan tâm làm giàu mà giành trọn đời mình để lo cho dân, cho nước. Chính vì thế nên khi ông mất, dân làng Tân Hưng đã rước di ảnh ông về thờ tại đình Tân Hưng nhằm giáo dục các thế hệ con cháu ra sức học tập và làm việc như khi sống ông vẫn làm. Những hình ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của ông cũng được trưng bày trang trọng tại đây.

Đình Tân Hưng hiện tọa lạc tại ấp Tân Hưng, xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 trước khi được trùng tu đình gồm 3 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thiếp vàng. Trên nền ngôi đình cũ, đình Tân Hưng được trùng tu khang trang, rộng rãi hơn (khởi công ngày 14 tháng 3 năm 2003 hoàn thành 10 tháng 9 năm 2004) gồm 2 ngôi nhà chính: một ngôi nhà thờ Thành hoàng bổn cảnh, một ngôi nhà thờ Huỳnh Tấn Phát.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 - 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “Chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn Việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Năm 1963 - 1965, địch đem quân chiếm đóng đình để tiến hành khủng bố, đàn áp nhân dân. Trước sự đoàn kết, thống nhất đấu tranh của quần chúng nhân dân và sự tấn công của lực lượng du kích, địch rút chạy, ngôi đình được trả lại nhân dân nhưng chúng đã làm hư hại nhiều cơ sở vật chất của đình. Năm 1968, cùng với các nơi nổi dậy tấn công Mùa xuân năm 1968, tại địa phương, các vị trong Ban khánh tiết đình Tân Hưng đi dân công, cứu thương phục vụ những trận đánh lớn, nổi bật có Huỳnh Trung Tuyên, Huỳnh Văn Búp, Huỳnh Văn Phường, Nguyễn Văn Thiệt.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, đình là nơi bắn phá của địch vì nơi đây thường xuyên là nơi đi lại và hoạt động của cán bộ, Đảng viên xã Châu Hưng, là nơi gây dựng cơ sở và cất giấu tài liệu, vũ khí. Năm 1972, địch ném 02 quả bom gây thiệt hại nặng cho đình. Ngôi đình tồn tại đến ngày nay minh chứng về lòng nhân nghĩa, ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam.

Với ý nghĩa đó, đình Tân Hưng đã được UBND tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1698/QĐ-UB công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hànhSưu tầm
Cây dừaCây dừa
Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.
Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Image
"Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”

Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.

Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Do biên độ sinh trưởng khá rộng, dừa có khả năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Riêng vùng nước lợ đã tỏ ra có ảnh hưởng tốt đến việc sinh trưởng của cây và hàm lượng dầu của quả.

Hiện nay, phần lớn các diện tích vườn dừa được cải tạo và trồng xen với các loại cây ăn quả, tạo cho vườn dừa có nhiều tầng sinh thái, cùng một lúa và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những vườn chỉ trồng chuyên một loại dừa. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trồng dừa trên thế giới.

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)
Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể.

Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn sử liệu có được, cộng với những sách của nước ngoài viết về vùng Đông Nam Á, chúng ta cũng có thể xác định được thời điểm người Việt có mặt sớm nhất ở đây. Phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử, gần như thống nhất ý kiến rằng vào đầu thế kỷ XVII đã có những người Việt từ miền ngoài vào khai thác đất đai và định cư rải rác ở nhiều nơi trên vùng đất mà ngày nay gọi là Nam Bộ (1). Trong khoảng thời gian trên dưới 300 năm, cuộc thiên di của người Việt đến vùng đất mới phương Nam diễn ra liên tục với sự hình thành các thôn, ấp và sự thiết lập từng bước bộ máy hành chính các cấp của chính quyền phong kiến. Dưới đây là một số mốc lịch sử liên quan đến quá trình định cư và khai phá đất đai ở giai đoạn đầu.

Theo một số học giả Pháp, thì vào năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chettha II đã cưới một công nương, con của chúa Nguyễn. Năm 1623, theo yêu cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp đã chấp thuận việc người Việt đến làm ăn ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay), Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé (2).

  • Sách Gia Định thành thông chí viết: "Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng, rộng rãi, đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở. Ngoài ra, còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố" (3).
  • Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần lại cho phép 3.000 người Hoa "phản Thanh phục Minh" theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến cư trú chính trị và định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho.
  • Đợt chuyển cư đáng chú ý nhất vào đầu thế kỷ XVIII diễn ra sau sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định (1698). Có lẽ đây là đợt chuyển cư có tổ chức do chính quyền phong kiến hướng dẫn lớn nhất so với trước đó. Lúc này, dân số đã lên đến 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với khoảng 200.000 dân, một điều kiện quan trọng để chúa Nguyễn cho lập huyện Phước Long và Tân Bình với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn lúc bấy giờ.
  • Sang đầu thế kỷ XVIII, vào năm Ất Dậu (1705), Nguyễn Cửu Vân, một tướng của chúa Nguyễn, sau khi giúp Nặc Ông Yêm đánh bại quân can thiệp Xiêm, kéo quân vào đóng ở Vũng Gù (vùng thị xã Tân An ngày nay) cho quân khai phá vùng đất chung quanh và đào thông hai ngọn rạch Mỹ Tho – Vũng Cù, vừa để làm đường vận chuyển, vừa làm hào phòng thủ (4).
  • Năm 1756, khi Nguyễn Cư Trinh tiếp thu phủ Lôi Lạp (Soài Rạp), thì dân số vùng này đã tương đối đông. Trong tờ sớ gửi lên Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Cư Trinh viết: "Từ xứ Sài Gòn đến phủ Tầm Đôn... đất đai mênh mông, ruộng nương rất nhiều, dân số lên đến vạn người" (5). Cũng từ đây, số lưu dân kéo vào ngày càng đông, nhất là sau vụ chạy loạn của dân miền Trung vào Nam, khi quân Trịnh lợi dụng cơ hội chúa Nguyễn đang lúng túng trước phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, vượt sông Gianh, đánh chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam (1774).

Vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Phước Lộc và Thuận An đã có hơn 350 thôn với 15.000 dân đinh, tương đương với khoảng 75.000 dân (6). Như vậy, chỉ trong vòng có mấy thập kỷ mà số dân đã tăng vọt khá nhanh.

  • Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kéo dài một phần tư thế kỷ (1777 – 1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân cư ở khu vực thành Gia Định và các vùng phụ cận, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ là vùng đất gồm một phần huyện Kiến Hòa tức cù lao An Hóa và hai huyện Bảo An, Tân Minh thuộc dinh Long Hồ).

    Trong sự nỗ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ, Nguyễn Ánh cũng đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến tranh chống Tây Sơn. Từ sau năm 1790, Nguyễn Ánh cũng ra lệnh cho quân đội vỡ ruộng, cử nhiều viên quan có tài làm điền nông sứ để vận động nhân dân ra sức phát triển nông nghiệp, đặt các sở đồn điền để sản xuất lương thực. Sau này, khi đã lên ngôi vua (1802), Gia Long vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các hình thức đồn điền để mở rộng việc khai hoang. Hai cù lao Bảo và Minh cũng có một số đồn điền theo dạng này.

    Đến thời Minh Mạng, Châu bản triều Nguyễn có ghi sự kiện: “Trương Minh Giảng đưa hơn 1.200 phạm nhân giao cho thành Gia Định phân phối họ đến các đồn điền” (7).

Nhìn chung các đợt chuyển cư từ miền ngoài, chủ yếu là dân vùng Ngũ Quảng (8) vào đất Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, diễn ra không ào ạt, nhưng tương đối đều đặn và liên tục. Số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng đi thuyền vào Đồng Nai, Bến Nghé, Tân Bình rồi sau đó mới tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Về tốc độ cũng như về số lượng của luồng này phát triển chậm chạp và có nhiều hạn chế. Luồng thứ hai cũng đi đường biển bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn, tiến sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông, hoặc theo dọc các con rạch.

Đầu thế kỷ XIX, khi con đường thiên lý từ Huế vào Gia Định được khai thông, có một số lưu dân chuyển cư theo đường bộ, nhưng rất hạn chế vì đường sá hiểm trở, nạn trộm cướp dọc đường thường xảy ra, cho nên không an toàn.

Đối với Bến Tre, lưu dân đi theo đường biển chiếm số lượng lớn nhất. Trong khi đó, số từ các địa phương lân cận di chuyển đến, tuy có nhưng không nhiều. Thường thường cuộc di chuyển được tổ chức thành nhóm, thành đoàn giữa những người bà con, dòng họ với nhau, những người cùng xóm giềng, làng xã quen biết nhau, những người cùng một tôn giáo (họ đạo Thiên Chúa) v.v... Và theo trình tự "người đi trước rước người đi sau”, những lớp lưu dân tự động tổ chức các cuộc đi nối tiếp nhau. Cũng có những cuộc di chuyển do Nhà nước đứng ra tổ chức, hoặc do “những người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn mộ vào Nam khai phá..." như Lê Quý Đôn miêu tả trong Phủ biên tạp lục.

Như vậy là bên cạnh đại đa số dân nghèo khổ, nạn nhân của chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến và chính sách bóc lộc, áp bức của nhà nguyễn, đi vào vùng đất mới để mong tìm được một sự “đổi đời” khá hơn, tốt hơn so với nơi quê cũ, còn có những người có tiền của, giàu có (những người có vật lực) với động cơ kinh doanh, làm ăn lớn. Chính lực lượng này vừa có vốn liếng, vừa tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, nên đã góp thêm những yếu tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ khai phá đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa.

Có những người, hoặc gia đình di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre như trường hợp ông Thái Hữu Xưa. Từ phủ Tư Nghĩa, gia đình ông đi bằng ghe bầu vào định cư tại Ba Tri.

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Vạn (90 tuổi, tính đến 1987) ở xã Thành Thới, trong bản gia phả bằng chữ Hán có ghi rõ ông tổ tên là Nguyễn Bình Đức, vợ là Bùi Thị Nhung quê ở bến đò Cô Hai, thôn An Trạch (nay thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) vào thẳng Bến Tre định cư ở Mỏ Cày.

Bản gia phả của gia đình ông Bùi Quang Đảnh (68 tuổi, tính đến năm 1984) ở thị trấn Mỏ Cày có ghi ông tổ là Bùi Ly, quê ở Châu Ổ (nay là thị trấn huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) lúc đầu đến định cư ở Giồng (Ổi, xã Long Sơn), tổng Bảo Thành, (cù lao Bảo) làm ruộng và chăn tằm.

Bản gia phả gia đình ông Lê Quang Lục (81 tuổi, tính đến năm 1984) ở xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, có ghi rõ quê quán ở thôn Phước Thuận, tổng Bình Hòa, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) vào Ba Tri bằng ghe bầu từ năm 1877.

Cũng có những bản gia phả ghi chép từng đời con cháu đến định cư ở đây, còn quê hương bản quán thì chỉ ghi chung chung "ở miền Ngoài vào", nhưng có thể căn cứ một số chi tiết khác trong gia phả mà đoán định được quê hương gốc của họ, như trường hợp một gia đình họ Nguyễn ở xã Định Thủy (Mỏ Cày). Bài thơ chép trong gia phả này có đoạn: "Lều tranh có kẻ già khằn. Hỏi rằng xứ ấy Chiên Đờn còn xa. Mong sao phúc đức ông bà. Chuyến này chẳng đặng còn là chuyến sau". Chiêu Đờn (hay Chiêu Đàn) là một địa danh nổi tiếng về trái thơm (khóm) thuộc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, cũng giống như thơm Bến Lức ở Long An vậy. Có khá nhiều trường hợp lưu dân trước khi định cư tại Bến Tre đã dừng lại ở một số địa phương trên đường di chuyển. Họ chuyển cư theo lối “nhảy cóc” từng chặng một, dừng lại ở đó một thời gian, có thể ngắn hoặc dài, rồi sau đó đi tiếp về phương Nam. Gia đình ông Hồ Văn Ưa là ông tổ của ông Hồ Văn Ngật, 70 tuổi ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Ông Hồ Văn Ưa gốc người Quảng Bình, theo cuộc di dân của chúa Nguyễn, đời Cảnh Hưng, vào Quảng Nam sinh sống một thời gian, sau đó đi tiếp vào Trấn Biên (Biên Hòa). Từ Biên Hòa, ông Ưa di chuyển gia đình đến Phú Lễ, huyện Ba Tri và đến nay tính đã 5 đời.

Qua cuộc khảo sát hàng trăm gia phả ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày, Chợ Lách, chúng ta gặp nhiều gia đình mà mộ cha, mộ ông nội chôn tại Bến Tre, nhưng mộ ông cố, ông sơ lại nằm ở Gò Công, Tân An hoặc Bà Rịa. Phăng tìm ngược dòng các thế hệ xa hơn nữa thì gốc gác của gia đình này ở tận Quảng Nam, Quảng Ngãi. Các cụ già khoảng 60 – 70 tuổi kể lại rằng trước đây các cụ vẫn đi về nơi ông cố, ông sơ đã từng định cư để dự giỗ chạp, dự việc họ. Chỉ từ khi chiến tranh nổ ra đến nay, việc đi lại khó khăn, không an toàn nên tục lệ này phai nhạt dần. Vùng huyện Chợ Lách và huyện Mỏ Cày có nhiều gia đình mà gốc gác hai ba đời về trước ở Trà Vinh.

Đến Bến Tre cũng không hoàn toàn có nghĩa là sẽ định cư mãi mãi ở một nơi cố định, trái lại vì nhiều lý do khác nhau, như vì sinh kế, vì hôn nhân, vì chiến tranh... nhiều gia đình lại tiếp tục di chuyển từ huyện này sang huyện khác, hoặc từ một gia đình lớn đến đời con, đời cháu, đời chắt lại phân tán ra thành nhiều gia đình nhỏ làm ăn ở nhiều nơi. Trường hợp bà tổ của ông Đặng Tường Hưng ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày là một ví dụ. Theo gia phả của gia đình còn lưu giữ được thì bà tổ tên là Hến, từ Huế dắt hai con trai vào Giồng Trôm (không ghi rõ thôn xã cụ thể) vào cuối thế kỷ XVIII. Một trong ba người con trai bị cọp vồ chết. Sau đó, bà Hến cùng hai người con trai còn lại dắt díu nhau đến định cư ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày cho đến ngày nay.

Những cuộc điều tra khảo sát về văn hóa dân gian và nguồn gốc dân cư do Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre tiến hành vào hai năm 1983 – 1984 cho biết qua 281 gia phả thành văn (bao gồm cả chữ Hán, Nôm, chữ quốc ngữ) và qua những câu chuyện kể không thành văn ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách, Bình Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre có thể rút ra một số kết luận sau đây:

  • Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XVIII chiếm 32,5%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XIX chiếm 63,9%.

Như vậy, ta thấy làn sóng lưu dân chuyển vào Bến Tre ào ạt nhất là ở thế kỷ XIX, gấp đôi số lượng của hai thế kỷ trước đó cộng lại.

- Về nguồn gốc địa phương của 112 gia phả (có nói đến xuất xứ) được chia ra như sau:

  • 38 gia đình quê gốc ở Quảng Ngãi.
  • 17 gia đình ở Thừa Thiên, Quảng Trị.
  • 19 gia đình ở Quảng Nam.
  • 9 gia đình ở Quảng Bình.
  • 11 gia đình ở Bình Định.
  • 5 gia đình ở Nghệ An.
  • 3 gia đình ở Hà Đông.
  • 2 gia đình ở Nam Định.
  • 4 gia đình ở miền Trung (không rõ tỉnh).
  • 4 gia đình ở miền Bắc (không rõ tỉnh).

Những dẫn chứng cùng các cứ liệu trên đây kết hợp với các đặc điểm về phong tục tập quán (cúng giỗ, cưới xin, ma chay, tục thờ cá voi, cúng việc lề...) về vốn văn nghệ dân gian (như hát sắc bùa), vốn từ vựng trong ngôn ngữ thường ngày của người dân, cùng những vật dụng, đồ trang trí nội thất (giường tủ, bàn thờ, chiếc rương xe, bộ tràng kỷ bằng tre) đã giúp ta xác định rõ được nguồn gốc dân cư của đồng bào Bến Tre. Ngoài ra, những tài liệu Hán Nôm, những câu liễn đối, bức hoành, sách thuốc, sách thầy cúng cũng đã cung cấp thêm cho chúng ta những cứ liệu lý thú khi đi tìm nguồn gốc của các vị tiền hiền, hậu hiền, các vị tổ của một số dòng họ, làm sáng tỏ thêm những điều ghi chép trong gia phả. Cần lưu ý thêm rằng có một số gia phả, nhất là những gia phả bằng chữ quốc ngữ, thường do những thế hệ sau này ghi theo trí nhớ của ông, cha kể lại, cho nên độ chính xác cũng chỉ là tương đối.

Tổng hợp lại tất cả các nguồn tài liệu qua những chuyến điều tra khảo sát điền dã nhiều vùng khác nhau trong tỉnh, có thể xác định được rằng nguồn gốc cộng đồng dân cư Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt từ phía nam đèo Hải Vân trở vào. Ở đây, cần lưu ý thêm một điều: nhiều gia phả ghi quê cũ ở Bắc - từ "Bắc" ở đây không mang nghĩa như ta hiểu miền Bắc của Tổ quốc ngày nay. Đa số đồng bào Lục tỉnh Nam Kỳ trước đây do thiếu hiểu biết rạch ròi về địa dư, thường căn cứ vào giọng nói, đã quan niệm "Bắc" với nghĩa bao gồm khu vực từ Bình Thuận trở ra, mà không phân biệt giọng Quảng, giọng Huế, Nghệ Tĩnh hay đồng bằng sông Hồng.

Từ nhiều địa chỉ khác nhau, những lưu dân trong quá trình đi tìm "mảnh đất lành” đã hội tụ về dải đất ba cù lao màu mỡ. Chính điều này đã góp phần quy định sự đa dạng và phong phú về kiến thức, nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất, săn bắt thú dữ, chữa bệnh khi ốm đau, xây cất nhà cửa, thói ăn nếp ở, phong tục tập quán và những sinh hoạt văn hóa dân gian khác. Ngoài những nghề chính như trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy hải sản, làm muối v.v...

Đất Bến Tre cũng là nơi có nhiều lò võ với những thầy võ nổi tiếng xa gần. Nằm trên địa bàn án ngữ con đường giao thông thủy từ miền Tây lên miền Đông, có nhiều cửa biển, tàu bè có thể từ biển Đông ngược dòng Cửu Long lên tận Phnom Pênh, Bến Tre đã sớm mở rộng sự giao lưu với bên ngoài, nên cũng là nơi nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở đây có điều kiện đi đây đi đó nhiều nơi, kể cả những nơi xa, có dịp tiếp xúc học hỏi, buôn bán, tiếp thụ những tinh hoa mọi vùng để làm giàu thêm kho tàng kiến thức của mình. Chiếc ghe Cửa Đại, nghề lưới rê, giàn đáy sông cầu, một số kỹ thuật đánh bắt tôm cá cho năng suất cao của ngư dân, nghề ghép cây, chiết cành ở Vĩnh Thành (Chợ Lách), lối kiến trúc nhà cửa ở Châu Thành, Mỏ Cày v.v... là những minh chứng cụ thể về điều đó.

Tuy nhiên, chế độ phong kiến nhà Nguyễn với cái cơ chế bảo thủ, lạc hậu mang nặng tính chất cát cứ, với những luật lệ hà khắc đã gây nên những mâu thuẫn gay gắt, làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Sử sách phong kiến cũng ghi nhận rằng trong giai đoạn 1802 – 1862, nhiều trận dịch tễ lớn đã diễn ra và đã cướp đi hàng chục vạn sinh mạng. Riêng trận dịch năm 1820 lan rộng từ Hà Tiên đến Thừa Thiên đã giết hại 50.000 người và trận dịch năm 1826 làm chết riêng ở Nam Kỳ, trong đó có Bến Tre, 16.000 người. Đặc biệt, trận dịch xảy ra vào năm Kỷ Dậu (1849), mà Bến Tre nằm trong vùng trọng điểm của nó, “đã gây tử vong khoảng 3/10 dân số và để lại ấn tượng lo ngại sâu sắc nơi các vị bô lão sống vào đầu thế kỷ XX" (9). Tình hình này đã có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử phát triển dân số của Bến Tre.

Sau này, dưới thời thuộc Pháp, bệnh dịch thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng những điều kiện vệ sinh phòng ngừa, thuốc men cũng như màng lưới y tế được tổ chức khá hơn, cho nên có thể dập tắt nhanh chóng, hạn chế được thiệt hại đáng kể.

Như vậy, tình trạng dịch bệnh ở các thế kỷ trước cũng là một nguyên nhân đáng kể làm hạn chế mức tăng dân số, thậm chí có khi gây ra hiện tượng sút giảm trong một thời gian dài. Đó là chưa kể đến bệnh sốt rét ác tính - một bệnh phổ biến ở vùng khí hậu ẩm ướt, nhiệt đới có nhiều rừng và đầm lầy, nhất là vùng đang hoặc mới khai thác còn nhiều muỗi mòng – đã giết chết hàng năm một số lượng dân cư đáng kể.

Chiến tranh cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển dân số, đồng thời cũng gây nên những xáo trộn về địa bàn cư trú trên một diện rộng. Cuộc chiến tranh kéo dài một phần tư thế kỷ giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và chính sách đàn áp, khủng bố trả thù khốc liệt của Minh Mạng diễn ra sau đó, những cuộc đàn áp dân theo đạo Thiên Chúa dưới triều Minh Mạng, Tự Đức v.v... đã gây nên những cuộc xáo trộn, di chuyển dân cư đáng kể.

Đặc biệt cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp vào nửa năm thế kỷ XIX và công cuộc "bình định" của bọn thực dân trong thập kỷ 60 và 70 tiếp theo đó đã gây nên những cuộc di chuyển dân cư rất phức tạp – không chỉ ở Bến Tre mà cả địa bàn Nam Bộ, và không chỉ ở Nam Bộ còn lan ra đến một số tỉnh miền Nam Trung Bộ. Một ví dụ: Vùng Ba Vát, Mỏ Cày là vùng dân cư đông đúc, trù phú của cù lao Minh. Sách Gia Định thành thông chí miêu tả Ba Vát "có phố xá liền lạc, ghe thuyền đậu tiếp tục đến huyện lỵ Tân An. Cách 15 dặm rưỡi, sông Mỏ Cày cũng có phố xá trù mật" (10). Sách Đại nam nhất thống chí cũng có nhận xét “Chợ Ba Vát ở thôn Phước Hạnh, lỵ sở của huyện Tân Minh, phố xá đông vui, thuyền bè tấp nập" (11). Thế nhưng nơi đây, trong cuộc đụng độ ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, đã bị tàn phá nặng nề, dân cư phân tán mỗi người một ngả, phải mất một thời gian nhiều thập kỷ mới phục hồi lại được.

Chiến tranh và chính sách khủng bố, trả thù của kẻ chiến thắng đã dẫn đến việc thay tên, đổi họ khá phổ biến ở Nam Bộ, trong đó có Bến Tre. Hiện tượng này không chỉ diễn ra dưới thời Gia Long, Minh Mạng... mà cả sau này, dưới thời thực dân Pháp với chính sách đàn áp những người kháng chiến và những người ủng hộ lực lượng kháng chiến của chúng và đám tay sai "tân trào". Gia phả của từng gia đình họ Đỗ ở xã Lương Hòa (Giồng Trôm) gốc từ miền Trung vào đây sinh cơ lập nghiệp đã 7, 8 đời có nói rõ lý do thay tên đổi họ giữa thời buổi nhiễu nhương như sau: "Quê này quê của người ta. Anh em lưu lạc sống hòa người dưng. Thay tên đổi họ không ngừng. Mới hòng sống đặng với cùng giặc Tây". Như vậy, việc thay tên đổi họ không chỉ diễn ra một lần, có khi nhiều lần, như trường hợp nhà họ Đỗ trên đây sau khi Pháp xâm lược.

Như đã trình bày ở phần trên, nguồn gốc dân cư gắn liền với lịch sử đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, gắn liền với việc khai phá và tạo dựng thôn ấp, làng xã của nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Quá trình đi tìm đất mới để lập nghiệp, tính kế dài lâu cho các con cháu của ông cha ta trên mảnh đất này rõ ràng đã không diễn ra đơn giản, thẳng tuột một lèo từ bến A đến bờ B như trên một dòng sông chảy xuôi về biển, mà thường rất quanh co, khúc khuỷu. Sự xê dịch, xáo trộn, có khi hợp rồi tan, có khi đi vòng vo là những hiện tượng thường thấy ở nhiều gia đình, dòng họ cũng như nhiều làng xã ở Bến Tre.

Khi đến vùng đất mới, những lưu dân thường có tập quán sống quần tụ với nhau theo quan hệ gia đình, dòng họ, hoặc cùng quê quán, cùng tôn giáo trên những nơi thế đất cao ráo, gần bến sông hay rạch, thuận lợi cho việc canh tác, tưới tiêu nước và vận chuyển, đi lại. Rồi dần dần thôn ấp được hình thành, đến khi có được một số lượng dân nhất định, họ chung nhau xây đình, dựng chùa, lập chợ... Các nơi này trở thành những trung tâm thu hút lớp lưu dân đến sau và họ nương tựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong khai phá đất đai, đắp đập, đào mương thủy lợi v.v... Ví như nghề đóng đáy trên sông, biển, không thể một mình, một người làm nổi, mà cần phải có nhiều người chung vốn, chung sức cùng hợp tác với nhau.

Theo thời gian, các tụ điểm dân cư dần dần nối liền nhau và tỏa rộng ra theo hình rẽ quạt. Dĩ nhiên, bản đồ dân cư lúc đầu trong một thời gian dài còn mang hình "da báo" khá rõ, bởi vì những điều kiện kỹ thuật canh tác, sức lao động, phương tiện... còn rất nhiều hạn chế. Cách thức khai hoang chủ yếu vẫn là theo lối "móc lõm", nghĩa là những nơi nào hội đủ những điều kiện tốt nhất (địa thế đất đai hợp với cây trồng, nước tưới, điều kiện để bảo vệ v.v...) thì công cuộc khai phá được tiến hành, nơi nào khó khăn quá, sức người chưa vượt qua nổi thì chừa lại, tính sau khi có đủ điều kiện.

Có thể nói rằng đến cuối thế kỷ XVIII diện mạo của cộng đồng dân cư Bến Tre về cơ bản đã định hình trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu nông nghiệp và ngư nghiệp. Cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang, sản xuất phát triển, lương thực dồi dào, các thôn xã hình thành ngày một nhiều. Việc quản lý xã hội đi dần vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho đời sống tinh thần – văn hóa của cộng đồng phát triển.

Từ năm 1802, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kết thúc. Trong bối cảnh hòa bình, toàn vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung cũng như Bến Tre nói riêng, người dân bắt tay vào xây dựng lại đời sống, ổn định nơi ăn chốn ở. Những chủ trương, chính sách mới của Nhà nước phong kiến khuyến khích việc khai hoang như miễn giảm thuế một số năm cho ruộng mới vỡ, phong thưởng cho những thành tích mộ dân, khẩn đất, lập làng, ấp... đã có tác dụng kích thích mạnh đến sản xuất nông nghiệp, làm tăng nhanh dân số. Nghề thủ công và buôn bán cũng phát triển, các chợ búa, phủ lỵ, quận lỵ, huyện lỵ hình thành, đón nhận những người "có vật lực" và những luồng lưu dân mới từ miền ngoài kéo vào đông đảo hơn, bổ sung vào cộng đồng cư dân Bến Tre vào nửa đầu thế kỷ XIX. Việc di dân liên tục đến Bến Tre (tất nhiên có một số người từ Bến Tre chuyển đi các vùng khác ở Nam Bộ) và sự gia tăng dân số tự nhiên đã làm cho dân số của tỉnh tăng nhanh. Qua bản thống kê số dân ở Nam Bộ vào giữa thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) có 41.336 dân đinh, nghĩa là vào khoảng 206.000 dân.

Ở thời điểm này, nền kinh tế của Bến Tre - chủ yếu là nông nghiệp – cũng đã phát triển khá. Nguồn lợi chủ yếu là gạo và dừa khô, thứ đến là trái cây. Bến Tre cũng bán ra ngoài mặt hàng lụa và cau khô, một số sản phẩm của biển như cá khô, tôm khô v.v...

Sự tăng trưởng về kinh tế đã tạo điều kiện cho văn hóa, giáo dục phát triển. Trước khi giặc Pháp chiếm đóng, tỉnh Bến Tre đã có 70 trường dạy chữ Hán (12). Các trường này phần lớn đặt ở các tư gia hoặc trong các chùa chiền để dạy chữ và lễ nghĩa, đạo lý. Trong số đó có trường nổi tiếng của thầy giáo kiêm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy là khi đời sống kinh tế đã ổn định, thế hệ cha ông chúng ta đã nghĩ đến việc học chữ. Với truyền thống hiếu học, nhân dân Bến Tre trong các thế kỷ qua đã có nhiều người đỗ đạt cao, có tri thức uyên bác trong hàng khoa mục ở Nam Kỳ.

Chú thích:

(1) Cũng có một vài ý kiến cho rằng lịch sử định cư của người Việt tại đây diễn ra sớm hơn trước thế kỷ XVII. Thực ra nếu có thể thì cũng chỉ là trường hợp cá biệt.
(2) Dẫn theo Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Khai Trí, S., 1967, tr. 400.
(3) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 73.
(4) QSQTN, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, H., 1962, tr. 192-193.
(5) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 2, tr. 89.
(6) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 1, tr.19. Theo cách tính mỗi dân đinh là một chủ hộ gồm: cha, mẹ, chồng, vợ, con cái, trung bình 5 người.
(7) Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng năm thứ 19 (1838), Q. 73, tr. 134, Kh lưu trữ TƯ II, bản dịch Ban Văn học, Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.
(8) Địa danh chỉ 5 dinh được lập đầu thế kỷ XIX, dưới thời Gia Long, gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (tức Thừa Thiên), Quảng Nam và Quảng Ngãi.
(9) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd, tr. 12.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập thượng, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 80.
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb Khoa học, H., 1971, tr. 139.
(12) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hànhSưu tầm
Nguyễn Quyền (1869 - 1941)Nguyễn Quyền (1869 - 1941)
&nbsp;

Image
Nguyễn Quyền (1869-1941)
    Sinh năm 1869 tại làng Thượng Trì, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình nhà nho, Nguyễn Quyền đỗ tú tài Hán học và được bổ nhiệm làm Huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, do đó người ta thường gọi ông là Huấn Quyền. Năm 1907, ông xin từ chức huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, về Hà Nội cùng với một số bạn bè như Lương Văn Can, Ngô Đức Kế, Dương Bá Trạc, Đào Nguyên Phổ, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… lập Trường Đông Kinh nghĩa thục nhằm truyền bá tinh thần yêu nước, đào tạo học sinh với kỳ vọng dùng con đường văn hóa để đấu tranh với bọn thực dân, khôi phục lại nền độc lập của dân tộc, trong khi các phong trào võ trang lần lượt bị thất bại. Nguyễn Quyền được cử làm giám học trường. Cũng trong thời gian này, ông có sáng tác nhiều bài thơ yêu nước, vận động cổ vũ cho cuộc Duy tân như Cắt tóc, Chiêu hồn nước…

   Chín tháng sau ngày khai giảng trường, chính quyền thực dân đánh hơi thấy những hoạt động của nhóm Đông kinh nghĩa thục có ảnh hưởng lớn đến tình hình xã hội bên ngoài và gây nguy hiểm cho chúng, nên tìm mọi cách để ngăn cản. Viên Thống sứ Bắc Kỳ buộc Nguyễn Quyền phải trở về với chức giáo thọ, nhưng không được trở lại Lạng Sơn, mà đổi về huyện Phù Ninh thuộc tỉnh Phú Thọ. Một tháng sau khi từ chức, thì ông bị mật thám Pháp bắt, đưa về Hà Nội. Chúng giam ông tại nhà lao Hỏa Lò. Hội đồng đề hình (Commission criminelle) ghép tội ông vào án "trảm giam hậu", rồi đổi thành án khổ sai chung thân, đày đi Côn Đảo (1909). Cảm động trước bản án của 5 chí sĩ yêu nước (gồm Nguyễn Quyền, Lê Đại, Võ Hoành, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí) một tác giả vô danh đã làm bài thơ đăng trên báo Mai (số 9, ngày 25-4-1936) nhan đề là Nam thiên phong vân, trong đó có đoạn ca ngợi hành động yêu nước của Nguyễn Quyền:

"Người tỉnh Bắc, Nguyễn Quyền là một
Cơn nhiệt thành lửa đốt buồng gan
Đùng đùng gió cuốn mây tan
Lạng thành giáo chức từ quan cáo về.
Mở tân giới, xoay nghề tân học
Đón tân trào, dựng cuộc duy tân
Tân thư, tân báo, tân văn
Chân đi miệng nói xa gần thiếu đâu
Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ
Khắp ba mươi sáu phố Hà thành…"

   Đến năm 1910, Nguyễn Quyền được chính quyền thực dân ân xá, nhưng không được trở về quê nhà, kể cả Hà Nội, nơi ông đã từng hoạt động. Chúng đưa ông về “an trí” ở tỉnh Bến Tre, cùng lúc đó Dương Bá Trạc bị đưa về Long Xuyên, Võ Hoành về Sa Đéc, Hoàng Tăng Bí về Huế, Phan Châu Trinh về Mỹ Tho. Thực ra đây là một cách giam lỏng các nhà trí thức yêu nước, cách ly họ khỏi môi trường cũ. Mỗi tháng, chính quyền thực dân "chu cấp" cho mỗi người 8 đồng bạc Đông Dương để chi tiêu sinh sống. Nguyễn Quyền, lúc ban đầu có nhận, nhưng một thời gian sau, nhờ sự giúp đỡ của đồng chí, đồng bào hảo tâm, ông từ chối không nhận trợ cấp này nữa.

   Tuy bị giam lỏng và bị theo dõi, nhưng Nguyễn Quyền vẫn bí mật liên lạc với những nhà yêu nước trong vùng Lục tỉnh, mở tiệm may tại thị xã Bến Tre để làm nơi liên lạc, giao thiệp hợp pháp với bên ngoài, vận động quần chúng góp tiền bạc, gởi sang Nhật giúp Phan Bội Châu và phong trào Đông Du.

   Năm 1916, do sự khai báo của cơ sở, ông bị Sở mật thám Sài Gòn gọi lên truy hỏi, nhưng vì không đủ chứng cứ buộc tội, chúng đành phải thả ông về lại Bến Tre.

  Năm 1924, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhân chuyến vào Nam, có ghé lại Bến Tre thăm ông và có làm thơ tặng, trong đó có câu "Kim mã tê thanh hồng nhựt ánh, Kê mi án kiếm quá trùng quan" hàm ý khơi dậy lòng yêu nước của người chiến sĩ năm xưa.

   Vào giai đoạn cuối đời, Nguyễn Quyền do tuổi tác và bệnh tật, bạn bè đồng chí ngày một thưa dần, hơn nữa ông không đủ sức và điều kiện nắm bắt được nhịp sống sôi động của cao trào dân chủ diễn ra trên đất nước ta trong những năm của thập kỷ 30, ông nghiêng về cảnh vui thú điền viên, cố giữ lòng trong sạch của một nhà nho hơn là hành động của người chiến sĩ. Khi thì ông lui về sống ở quê vợ thứ tại Thạnh Phú, lúc ở Cồn Ngao (Trà Vinh), cuối cùng ông chuyển về sống ở Sa Đéc, dựa vào nguồn lợi của mấy mẫu vườn cây ăn trái của con và mất tại đây ngày 18-7-1941, hưởng thọ 72 tuổi. Trước khi mất, ông có đọc cho một đồng chí ở Cao Lãnh ghi lại lời chúc ngôn bằng chữ Hán, đại ý là muốn giải bày tấm lòng yêu nước, yêu dân của một trí thức Nho học được thể hiện trong gần 40 năm hoạt động, nhưng “lực bất tòng tâm", việc lớn không thành… rất mong đồng bào thông cảm cho ông, như thế là ông mãn nguyện lắm rồi.

Đã ban hành
 Sân chim Vàm Hồ Sân chim Vàm Hồ
&nbsp;
{mosimage}
- Từ Thị xã Bến Tre đến sân chim Vàm Hồ theo đường tỉnh 885, đến Thị trấn Ba Tri rồi rẽ về ngã Tân Xuân, đoạn đường dài khoảng 52 km. Vàm Hồ trở thành sân chim lớn nhất của tỉnh Bến Tre với khoảng nửa triệu chim các loại.
 
- Khách đến sân chim vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn sẽ được nghe bản “giao hưởng” thú vị của hàng ngàn con chim đủ loại từ các nơi bay về ríu rít bên nhau sau một ngày bay đi kiếm ăn khắp bốn phương và cả tiếng kêu của đàn vạc chuẩn bị vỗ cánh đi kiếm ăn vào ban đêm.
 
Đã ban hành
Rạch Cái CấmRạch Cái Cấm
&nbsp;

Cái: từ cổ là con rạch. Rạch này bao quanh cù lao Thanh Tân. Sách Gia Định thành thông chí ghi: “con rạch bao quanh cù lao Thanh Sơn (nay là Thanh Tân) tục danh Cái Cấm, nơi có nhiều sấu…”. Ngày xưa, nhiều người qua đây bị sấu đớp mất, do đó những chức sắc trong làng đề ra quy ước “Khi qua lại nơi đây, phải chờ được năm ba người họp lại thành toán mới đi qua, cấm không  được đi lẻ một mình”. Rạch Cái Cấm nay thuộc xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày.

Cái Cấm

Cầu bê – tông cốt thép dài khoảng 80m, bắc qua rạch cùng tên trên đường từ phà Hàm Luông đi Mỏ Cày.

Đã ban hành
Chợ ThủChợ Thủ
&nbsp;

Chợ nằm bên cạnh cửa Ba Lai, nay thuộc xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại. Nơi đây, dưới thời Nguyễn có đặt một đồn biên phòng gọi là gọi là thủ Ba Lai do đó chợ này có tên là chợ Thủ.

Đã ban hành
Y phục trong ngày lễ TếtY phục trong ngày lễ Tết
&nbsp;

Image
Trang phục áo dài
Trước CMT8-1945, đại đa số trung nông, tiểu chủ và những người làm nghề tự do (thợ may, cắt tóc, lái xe, thợ rèn...) thường sắm cho mình một bộ "lễ phục" gồm chiếc áo dài bằng xuyến hoặc lương đen, một quần trắng bằng lụa hay vải, và một chiếc khăn đóng (khăn xếp). Địa chủ giàu, thương gia hay tư sản, và cả những công chức cũng sắm một bộ y phục như thế, có khác chăng là may bằng loại vải đắt hay rẻ tiền. Bộ đồ này được mặc trong những dịp “quan, hôn, tang, tế” kể cả những đám cúng đình, những cuộc đón rước các quan chức đến tỉnh, hoặc đi dự tiệc mừng một công chức nào đó vừa được khen thưởng. Trong những dịp ấy, chủ nhà lẫn khách đều trang nghiêm trong chiếc áo dài đen, quần trắng, đội khăn đóng. Nhiều người cho rằng đó là "lễ phục” của người Việt Nam. Những bức ảnh chụp cách đây 80, 90 năm còn lưu lại trong sách vở, hoặc được đặt trên bàn thờ như của học giả Trương Vĩnh Ký, của thầy giáo Nguyễn Văn Vinh, của ông Thái Hữu Kiểm (còn gọi là "Ông già Ba Tri") cho thấy họ đều mặc bộ "lễ phục" này. Thuở ấy, những thầy đồ nho, thầy thuốc bắc, một số giáo viên đều mặc áo dài đen, quần trắng khi đi làm việc, chỉ khác là không đội chiếc khăn đóng. Cũng có người mặc chiếc quần Âu thay chiếc quần vải nội hóa.

Cho đến nay, những cụ già khoảng 80 tuổi còn mặc chiếc áo dài đen vào ngày Nguyên đán để cúng vái trước bàn thờ tổ tiên. Ở Bến Tre, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy trong đám cưới, nhất là khi đi rước dâu, có những người lớn tuổi mặc "lễ phục" xưa, tay che dù đen trông rất đạo mạo. Chiếc áo xuyến hoặc lương đen, mỏng, nhẹ, mịn bằng tơ tằm mặc rất bền. Đi đôi với bộ “lễ phục” này, những người có tiền hoặc công chức thích mang giày cao cổ (bottines) hoặc giày hàm ếch. Ở nông thôn, có nhiều người mang guốc gỗ. Nói chung, hễ mặc áo dài thì không ai đi chân đất. Những người có chức trong làng xã, ngoài chiếc áo dài xuyến mỏng, còn sắm một áo cặp bên trong bằng vải trắng, bên ngoài bằng gấm hoặc tơ, đủ màu và có dệt chữ "thọ" hoặc chữ "phúc" hình tròn. Chiếc áo này, thường mặc trong dịp cúng đình (cúng đình Nam Bộ trước kia là một cuộc lễ to nhất ở làng mang tính văn hóa. Các vị hương chức hội tề đều phải lễ bái trước bàn thờ thần trong bộ y phục ngày lễ). Cho đến năm 1940, học trò nam trường công Bến Tre cũng còn mặc bộ bà ba trắng, mang guốc. Học trò Bến Tre học trường Tây ở Sài Gòn thì phải mặc Âu phục.

Âu phục của đàn ông ở Bến Tre ra đời từ lúc có người Việt Nam làm công chức cho Pháp, mặc dù cũng có người Việt khi đi làm còn mặc áo dài, xách ô. Một bộ Âu phục cách nay khoảng 40 - 50 năm thường bằng bố trắng loại tốt (toile fine), rẻ hơn một chút là simili trắng rồi mới đến kaki trắng. Đắt hơn là “săng tung” một loại vải pha tơ tằm nhập ngoại. Đắt và sang nhất là bộ tussor Ba Tri. Đàn ông ra đường, đại đa số đội mũ cứng màu trắng sản xuất ở trong nước. Tại Sài Gòn xưa có một cửa hiệu nổi tiếng làm loại mũ này là "Coq d’Annam". Những người khá giả ở Bến Tre thường đội mũ dạ nhập của Pháp hiệu Fléchet, Mossan hay Borsalion.

Cách nay hơn 50 năm, phụ nữ Bến Tre lúc còn trẻ thường mặc áo dài trắng hoặc màu. Nhưng hầu như ai cũng có một chiếc áo dài lụa Ba Tri. Nhiều người có tiền sắm chiếc áo nhung đen hoặc xanh nước biển. Phụ nữ lớn tuổi dự đám cưới có khi mặc áo cặp. Chiếc bên trong thường màu hồng nhạt, chiếc áo bên ngoài đậm hơn. Năm 1930, mốt chiếc áo dài phụ nữ Bến Tre chỉ quá đầu gối một chút. Đến năm 1938, mốt “mới” kéo vạt áo xuống gần đến cổ chân. Năm 1945 thì vạt áo rút ngắn trở lại.

Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hànhThu Thảo (Bảo Tàng Bến Tre)
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường An Hội, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer